Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2012 - Tập 16 - Số 2
09 KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ SỐC SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE BẰNG DUNG DỊCH HYDROXYETHYL STARCH 200/0.5 6% TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2 NĂM 2010

Phạm Thái Sơn*, Bùi Quốc Thắng**

TÓM TẮT :

Mục tiêu: Nhận xét kết quả điều trị sốc sốt xuất huyết (SXHD) bằng dung dịch HES 200/0.5 6% tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 từ tháng 1/2010 đến tháng 12/2010.

Thiết kế: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca.

Kết quả: Nghiên cứu 167 trường hợp sốc SXHD được truyền dung dịch HES 200/0.5 6%, tuổi trung bình 6,14 tuổi (2 tháng - 14 tuổi), đa số là độ III (77,2%). Tổng lượng dịch truyền sử dụng là 141,4±38,2 ml/kg, tổng lượng HES sử dụng là 81,6±36,5 ml/kg. Đa số ra sốc ngay liều HES đầu tiên với thời gian ra sốc là 1,1 giờ, tỉ lệ tái sốc sau dùng HES và sốc kéo dài thấp với tỉ lệ lần lượt là 9,6% và 1,8%. Dung tích hồng cầu trung bình (Hct) sau truyền HES hai giờ là 40,2% cải thiện có ý nghĩa so với ban đầu là 47,1% và ổn định sau đó ở mức 38,2-39,8%. Không có sự thay đổi chức năng thận, nồng độ điện giải cũng như tình trạng kiềm toan đáng kể. Biến chứng có thể do truyền dung dịch HES bao gồm suy hô hấp (58,1%) do tràn dịch màng phổi, màng bụng; tăng rối loạn đông máu trên xét nghiệm mặc dù tỉ lệ xuyết huyết lâm sàng là thấp (23,4%). Có 1 trường hợp nổi mề đay sau truyền HES, không ghi nhận run tiêm truyền hay sốc phản vệ. Kết quả điều trị có 1 trường hợp tử vong do xuất huyết phổi và rối loạn đông máu nặng (0,6%).

Kết luận: dung dịch HES 200/0,5 6% đáng tin cậy để điều trị sốc SXHD vì có tác dụng chống sốc tốt, ổn định nhanh huyết động, tỉ lệ tái sốc thấp, không ảnh hưởng chức năng thận, thăng bằng điện giải và kiềm toan. Tuy nhiên, tổng lượng cao phân tử HES sử dụng là nhiều, tỉ lệ suy hô hấp cao, tràn dịch đa màng nhiều.

ABSTRACT :

Objective: To assess the results of treatments with HES 200/0.5 6% solution in patients with Dengue Shock Syndrome (DSS) in the Children’s Hospital 2 from January 2010 toDecember 2010.

MethodCase series report.

Result: 167 DDS cases were treated with HES and had mean age of 6.14 year old (range: 2 month to 14 year old), andn (77.2%) cases in grade III (77.2%). Total volumes of infused fluid and HES were 141.4 ± 38.2 ml/kgand 81.6 ± 36.5 ml/kg, respectively. The shock was almost resolved after using the first dose of HES, with the average time of 1.1 hours. The proportions of shock relapse and prolonged shocks after using HES were low (9.6% and 1.8%). Mean hematocrite after first 2 hours of HES 200/0.5 infusion was 40.2% and improved (47.1% at the beginning) and stabilized at 38.2-39.8% latter. Changes in renal function, serum electrolyte concentration andacid-base balance were not significantCoagulation tests were significantly worsened after using HES. Complications caused by HES infusion included respiratory distress (58.1%) caused by pleural effusion and ascites; increased coagutation disorder, although the proportions of bleeding and gastrointestinal bleeding are low (23.4% and 16.8%). A case had allergic reactions with skin rash after infused HES. A case died of pulmonary hemorrhage and severe coagulopathy (0.6%).

Conclusion: HES 200/0.5 6% solution was realiable in treating DSS because of good volume effect, rapidly stable hemodynamic status, low shock relapse and its safety on renal functions, electrolytes and acid-base balance. However, its high total volumes could inducerespiratory failure, pleural effusion and ascites.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF