Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2012 - Tập 16 - Số 4
TÁC NHÂN VI KHUẨN GÂY VIÊM PHỔI CỘNG ĐỒNG VÀ SỰ NHẠY CẢM KHÁNG SINH

Trương Mỹ Hạnh Trâm*, Trần Thị Thu Loan*, Dương Minh Hùng*

TÓM TẮT :

Mục tiêu: Xác định tác nhân vi khuẩn gây viêm phổi cộng đồng và sự nhạy cảm kháng sinh của các loại vi khuẩn được định danh ở bệnh nhân nhập khoa hô hấp bệnh viện Nhi Đồng 2.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiền cứu, mô tả và phân tích 313 trường hợp viêm phổi cộng đồng tại khoa hô hấp bênh viện Nhi Đồng 2 từ 08/2011 đến 05/2012.

Kết quả: Dân số nghiên cứu có 92,3% trẻ dưới 5 tuổi, 86,3% đã được dùng kháng sinh trước khi nhập viện. Định danh được vi khuẩn gây bệnh trong 43,9% trường hợp mẫu đàm có giá trị khảo sát, cao hơn so với tỉ lệ cấy dương tính trên mẫu đàm chung là 30,7%, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p <0,001). Streptococcus pneumoniae là tác nhân chiếm tỉ lệ cao nhất (38,5%), kế tiếp là Staphylococcus aureus (10,8%), 4,6% trường hợp đồng nhiễm từ 2 loại vi khuẩn trở lên. Tỉ lệ nhiễm Mycoplasma pneumoniae và Clamydia pneumonia lần lượt là 20,1% và 2,9%. Theo kháng sinh đồ, Streptococcus pneumoniae nhạy Vancomycine, Levofloxacine, Ofloxacine. Staphylococcus aureus còn nhạy với nhiều loại kháng sinh, kháng Penicilline, Oxacilline và Ciprofloxacine. Loại kháng sinh tiêm mạch ban đầu thường được sử dụng là Ceftriaxone/Cefotaxim. Điều trị kháng sinh ban đầu theo kinh nghiệm cho đáp ứng lâm sàng tốt trong 71% trường hợp. Có 2,6% trường hợp được dùng kháng sinh theo kháng sinh đồ và 4,2% trường hợp được dùng thêm Macrolides sau khi có kết quả xác định nhiễm Mycoplasma pneumoniae và Clamydia pneumonia cho kết quả tốt.

Kết luận: Mẫu NTA tin cậy cho kết quả cấy dương tính cao hơn so với mẫu NTA không có giá trị khảo sát. Trong đó, Streptococcus pneumoniae là tác nhân thường gặp nhất. Điều trị ban đầu theo kinh nghiệm cho tỉ lệ thành công 71%. Các xét nghiệm định danh vi khuẩn không cần thiết làm thường qui, chỉ nên thực hiện trong những trường hợp viêm phổi nặng, có biến chứng hoặc kéo dài.

ABSTRACT :

Objective: To describe etiologies of community-acquired pneumonias and the sensitivity of identified bacteria with antibiotics in the patients at the respiratory department in Children’s Hospital 2.

Method: Follow-up study of 313 cases of community-acquired pneumonia at the respiratory department in Children’s Hospital 2 from 8/2011 to 05/2012.

Results: Among 313 cases, there were 92.3% cases under five years old, 86.3% cases received antibiotics before admission. The etiologic agents were identified in 43.9% good quality NTA samples. This rate was significantly higher than that in all NTA samples (p < 0.001). Streptococcus pneumonia was the most common cause (38.5%), 4.6% cases were mixed infections of two or more bacteria. The rates of Mycoplasma pneumonia and Clamydia pneumonia infections were 21.1% and 2.9%, respectively. All patients were given antibiotics promptly on admission. The first choice of intravenous antibiotics was Ceftriaxone or Cefotaxime. There were of 71% patients recovered with empiric therapy.

 

Conclusions: Good quality NTA culture is more positive than that in bad ones. Streptococcus pneumonia was the most common cause. Choice of antibiotics is mostly empiric. Emperic therapy responsed for the recovered rate of 71% cases. The identification of bacteria with NTA should not be routinely done, only in cases with severe or complicated or prolonged pneumonias.


Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF