Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2012 - Tập 16 - Số 4
ĐẶC ĐIỂM VIÊM RUỘT HOẠI TỬ Ở TRẺ SƠ SINH TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2

Nguyễn Thị Kim Anh*, Lê Thị Thùy Dung*, Lê Nguyễn Nhật Trung*

TÓM TẮT :

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng, cận lâm sàng, điều trị của bệnh viêm ruột hoại tử ở trẻ sơ sinh tại bệnh viện Nhi Đồng 2.

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hàng loạt ca

Kết quả: Nghiên cứu gồm có 40 ca chẩn đoán viêm ruột hoại tử từ độ II trở lên thỏa tiêu chí chọn mẫu. Trong đó có 80% sanh non và 20% sanh đủ tháng; 82,5% khởi bệnh tại bệnh viện và 17,5% khởi bệnh tại nhà. Các yếu tố nguy cơ gồm: Ăn sữa công thức (92,5%), đặt nội khí quản (60%), đặt Catheter tĩnh mạch rốn (60%), sanh ngạt (30%), hạ huyết áp (30%), còn ống động mạch (27,5%) và thay máu (2,5%). Có 82,5% trường hợp bị suy hô hấp. Triệu chứng tiêu hóa: Chướng bụng (100%), dịch dạ dày có dịch mật (85%), tiêu máu đại thể (75%), dư dịch dạ dày (50%). Triệu chứng toàn thân gồm: Lừ đừ (97,5%), giảm trương lực cơ (87,5%), phù cứng bì (85%), sốc (60%) và hạ thân nhiệt (50%). Các bệnh lý đi kèm gồm: nhiễm khuẩn huyết (100%), viêm phổi (75%), bệnh màng trong (52,5%), tim bẩm sinh (32,5%), rubella (7,5%) và viêm phổi hít phân su (5%). Cận lâm sàng: Thiếu máu (100%), giảm tiểu cầu (90%), CRP tăng (90%), giảm bạch cầu (55%), rối loạn đông máu (72,5%), toan chuyển hóa (60%), hạ natri máu (57,5%), cấy máu dương tính (32,5%). Biến chứng thủng ruột có 27,5% trường hợp. Có 35% trường hợp cần can thiệp phẫu thuật. Tỉ lệ tử vong là 57,5%. Các yếu tố liên quan tử vong như suy hô hấp, hạ thân nhiệt, giảm trương lực cơ, phù cứng bì, sốc, hạ natri máu, toan chuyển hóa và rối loạn đông máu.

Kết luận: Đa số trẻ bị viêm ruột hoại tử đều có tình trạng nhiễm khuẩn toàn thân nặng nên tỉ lệ tử vong rất cao. Do đó phòng ngừa bệnh viêm ruốt hoại tử rất quan trọng để giảm tần suất bệnh và giảm tỉ lệ tử vong ở trẻ sanh non. Khi bệnh xảy ra cần theo dõi sát để tích cực điều trị và có chỉ định phẫu thuật kịp thời.

ABSTRACT :

Objectives: To describe characteristics of the epidermiology, clinical, paraclinical, treatment of neonatal necrotizing enterocolitis at Children’s Hospital 2.

Methods: Case series.

Results: Forty neonates were listed in discharge record as having neonatal necrotizing enterocolitis of Bell,s stage II or higher. There were 80% preterms and 20% terms in which 82.5% developed neonatal necrotizing enterocolitis at hospitals and 17.5% developed neonatal necrotizing enterocolitis at home. The risk factor of neonatal necrotizing enterocolitis: Fed artificial formular (92.5%), endotracheal intubation (60%), umbilical vein catheter (60%), asphyxia (30%), hypotension (30%), patent ductus arteriosus (27.5%) and exchange transfusion (2.5%). Respiratory failure in 82.5%.The gastrointestinal symptoms: abdominal distention (100%), bilious gastric aspirate (85%), grossly bloody stools (75%), gastric residuals (50%). The general symptoms: Lethargy (97.5%), poor muscle stone (87.5%), sclerema neonatorum (85%), shock (60%), hypothermia (50%). The other deseases: Sepsis (100%), pneumonia (75%), respiratory distress syndrome (52.5%), congenital heart disease (32.5%), congenital rubella (7.5%), meconium aspiration (5%).The blood tests: Anemia (100%), thrombocytopenia (90%), increased CRP (90%), leukopenia (55%), metabolic acidocis (60%), hyponatremia (57.5%), coagulation abnormalities (72.5%), positive blood cultures (32.5%). There were 27.5% cases showed intestinal perforation and 35% required surgical intervention. The rate of death was 57.5%. The risk factors associated death consist of respiratory failure, hypothermia, poor muscle stone, sclerema neonatorum, shock, hyponatremia, dyscoagulation and metabolic acidocis.

 

 

Conclusions: All of cases of neonatal necrotizing enterocolitis have severe sepsis so that the rate of death is very high. The prevention of neonatal necrotizing enterocolitis in preterm is very impotant to decrease the frequences and mortality. When the neonatal necrotizing enterocolitis developed, we should monitor carefully to indicate surgery intime.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF