Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2012 - Tập 16 - Số 4
KHẢO SÁT HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ SỎI NIỆU QUẢN ĐOẠN LƯNG CÓ KÍCH THƯỚC TRÊN 2 CM QUA NỘI SOI NIỆU QUẢN BẰNG LASER HOLMIUM

Đoàn Trí Dũng*, Nguyễn Văn Bền*, Trịnh Hoàng Tín*, Phan Trường Nam*

TÓM TẮT :

Mục tiêu: Khảo sát các yếu tố cản trở tiếp cận sỏi khi đưa ống soi niệu quản vào niệu quản. Xác định tỉ lệ sạch sỏi, tỉ lệ thất bại. Khảo sát các biến chứng trong và sau mổ

Phương pháp và đối tượng: 39 trường hợp sỏi niệu quản lưng lớn trên 2 cm được nội soi niệu quản tán sỏi bằng laser Holmium.bằng ống soi cứng và mềm

Kết quả: khảo sát 39 trường hợp sỏi có kích thước trung bình 22,28 mm (20-27 mm). Sỏi khó tiếp xúc trong 43,6% trường hợp mà nguyên nhân chủ yếu là do niệu quản bị uốn cong hay gấp khúc (83,2%) trước hoặc trong khi đưa máy soi niệu quản. 35,9% trường hợp không thể đặt được dây dẫn đường an toàn. Hầu hết các trường hợp đều dùng ống nội soi cứng. Chỉ có 1 trường hợp phải dùng nội soi mềm. Có 13 trường hợp (33,3%) sỏi chạy lên thận trong đó có 4 trường hợp (30,7%) phải dùng nội soi mềm để tiếp cận sỏi trong bể hay đài thận. ti lệ sạch sỏi là 87,2%. Một trường hợp thất bại (2,6%). Chỉ có 1 trường hợp hẹp niệu quản sau tán.

Kết luận: Sủ dụng ống soi cứng trong điều trị sỏi niệu quản lưng cho kết quả giống như khi dùng soi mềm. Nhưng việc khó tiếp cận sỏi do nguyên nhân niệu quản uốn khúc và đặt dây dẫn đường không đưa qua sỏi và sỏi chạy lên thận sẽ là những trỏ ngại thường gặp trong nội soi tán sỏi niệu quản đoạn lưng lớn. Nội soi niệu quản để điều trị sỏi lớn trên 2 cm với laser Holmium là phương pháp nên được chọn lựa đầu tiên. Và đây là phương pháp ít xâm lấn nhất với tỉ lệ sạch sỏi cao và tỉ lệ thất bại thấp 

ABSTRACT :

Purpose: To study factors which hinder approaching stones when manipulating the ureteroscope. To determine stone-free rate and the failure rate. To study complications during and after procedures

Materials and Methods: A total of 39 patients habouring proximal ureteral stones underwent semirgid or flexible Holmium: YAG-laser ureterolithotripsy. The factors which hinder approaching stones, stone size, complication and stone-free rates were recorded.

Results: We studied 39 stone cases with average stone size 22.28mm (20-27mm). Difficult approach to stones in 43.6% cases resulted from ureteral kinking or tortuousness which occurred before or during introduction of ureteroscope. In 39.5% of cases, we could not pass a guide wire beyond the stone just before the endoscopic procedure. In most cases rigid ureteroscope were used. Flexible ureteroscope was used in just one case. In 13 cases, stones ran upwards and in 4 cases thereof (30.7%) we had to use flexible ureteroscope to get closer to the renal stones. Stone-free rate was 87.2%. There was 1 case failed (2.6%). There was one case with post-procedural ureteral stenosis.

Conclusions: The use of rigid ureteroscope for lumbar ureteral stones gave the same result as the use of flexible one. However, the difficulty in approaching resulted from ureteral tortuousness and failure to pass a guide wire beyond the stone would become challenging in removing big proximal ureteral stones. Ureteroscopy to treat proximal ureteral stones more than 2 cm with Holmium: Yag laser was the first option with high stone-free rate and the lowest failure rate.


Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF