Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2012 - Tập 16 - Số 1
HIỆU QUẢ UNG THƯ HỌC TRONG PHẪU THUẬT CẮT RỘNG TUYẾN ỨC QUA NỘI SOI - ĐIỀU TRỊ BỆNH NHƯỢC CƠ - CÓ U (NGHIÊN CỨU ĐA TRUNG TÂM: BV. CHỢ RẪY, BV. ĐẠI HỌC Y DƯỢC VÀ BV. CẤP CỨU TRƯNG VƯƠNG)

Nguyễn Công Minh*

TÓM TẮT :

Mục tiêu: Phẫu thuật cắt tuyến ức là phương pháp điều trị hiệu quả bệnh nhược cơ (BNC). Có từ 10-20% bệnh nhân nhược cơ có u tuyến ức và ngược lại, có từ 20-25% các trường hợp u tuyến ức kèm theo bệnh nhược cơ. Cả hai đều phải được phẫu thuật (hoặc chẻ xương ức hoạc PTNS lồng ngực). Mục tiêu của công trình này là trình bày các dạng lâm sàng và giá trị của phẫu thuật nội soi (PTNS) cắt rộng tuyến ức trong điều trị BNC, phân tích hiệu quả trung hạn đạt được trên cả hai phương diện thần kinh học và ung thư học tại ba trung tâm (BV Chợ Rẫy, BV cấp cứu Trưng Vương và BV ĐH Y Dược).

Phương pháp nghiên cứu và kết quả: Chúng tôi thu nhận được 41 trường hợp PTNS điều trị bệnh nhược cơ có u tuyến ức, nghiên cứu trong 6 năm (1/2004 - 1/2010). Tuổi trung bình là 45,8. Nam nhiều gấp ba nữ (78% so với 22%). 70% BNC mức độ nhẹ (giai đoạn I và IIa) và 30% độ nặng (giai đoạn IIb trở lên) theo phân loại lâm sàng của Hiệp hội nhược cơ Hoa Kỳ. Về bản chất u: 4 carcinôm và 37 là u tuyến ức. Thực hiện PTNS cắt rộng tuyến ức vào ngực phải chiếm 85% các trường hợp, vào ngực trái là 15% bệnh nhân. Không có tử vong sau mổ, biến chứng nhẹ chiếm 9,5%. Với thời gian theo dõi trung bình là 3 năm 10 tháng (1 năm - 6 năm): hiệu quả sau mổ của chúng tôi lên đến 83%: 4 BN khỏi hẳn, 30 thuyên giảm và 7 không hiệu quả. Về mặt ung thư học, không có trường hợp nào tái phát. PTNS cắt tuyến ức có nhiều thuận lợi, bảo đảm tính thẩm mỹ, kinh tế và sự hài lòng của bệnh nhân.

Kết luận: “Phẫu thuật nội soi lồng ngực lấy triệt để u tuyến ức và cả mô mỡ bao quanh” có thể thực hiện an toàn mà không làm tổn thương các cơ quan kế cận. Đây là một phương pháp tốt điều trị phẫu thuật BNC, là một phương pháp ít xâm lấn nhưng bảo đảm cắt lấy rộng mô tuyến ức trong hầu hết các trường hợp. Hiệu quả ung thư học của PT cắt rộng tuyến ức trong điều trị BNC có u đạt thỏa đáng, mặc dù hiệu quả nhược cơ sau mổ chỉ có 83%. Vấn đề còn tùy thuộc vào sự hiện hữu của kháng thể kháng men tyrosine kinase đặc hiệu cơ trên từng bệnh nhân, sẽ kém hiệu quả sau mổ.

ABSTRACT :

Objective: Thymectomy is an effective approach in the treatment of myasthenia gravis. In approximately 10-20% of MG patients with thymoma and in turn, 20-25% of patients with a thymoma have myasthenia gravis. Both diseases are treated by surgery (sternotomy or the video-assisted thoracoscopic surgery (VATS). The purpose of the study would designed the clinic features and analyze the results of VATS extended thymectomy and the efficacy on neurological and oncological aspect of medium time follow for treatment myasthenia gravis with thymoma at three centers (Cho Ray, Trung Vuong and Medical univesity hospital).

Methods and Results: Between 1/2004 - 12/2010 (during 6 years), we are 41 patients video-assisted thoracoscopic extended thymectomy for the treatment of MG with thymoma. Mean age was 45.8. Male is three times more than female (78% via 22%). 70% I, IIa and 30% from IIb in MGFA classification. Four Thymic carcinomas 37 thymomas. VATS extended thymectomy that can be performed through the right approaches in 85% of cases and 15% through the left. No operated mortality and 9.5% minimal postop-complications. With a overall mean follow-up of 46 months, the improvement rate was 83%: 4 patients had a complete remission, 30 a remission with medications and improvement of symptoms, 7 remained nearly in the same status. No residive on the oncological follow-up. The VATS thymectomy is significant advantages, cosmetic, economic, are pleased and accepted for all patients.

Conclusion: “Video-assisted thoracoscopic radical thymectomy and resection of the perithymic fats” can be achieved with absolute safety, without damaging adjacent organs. This technique offers all the advantages minimally invasive surgery provides better results in terms of effectivement in treatment of the most of cases of myasthenia gravis. The oncological outcome of the extended thymectomy in myasthenic thymoma patients was satifactory though there were only 83% improvement, because the problem was related to the existence of the muscle specific receptors tyrosine kinase antibodies on patient, that was less efficacy postoperative.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF