Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2013 - Tập 17 - Số 1
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ GÂY VIÊM PHỔI BỆNH VIỆN TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC, BỆNH VIỆN KHÁNH HÒA

Ngô Thanh Bình*, Nguyễn Văn Khôi**

TÓM TẮT :

Mục tiêu: Phân tích các YTNC gây viêm phổi bệnh viện (VPBV) tại khoa Hồi sức tích cực (HSTC), Bệnh viện (BV) Đa khoa Khánh Hòa.

Phương pháp: Nghiên cứu (NC) cắt ngang phân tích.

Kết quả: Từ 5/2010 – 6/2011, có 480 BN nhập khoa HSTC, BV Khánh Hòa, gồm 102 BN VPBV (21,25%); và 378 BN không VPBV (78,75%). Trong 102 BN VPBV, có 62 nam và 40 nữ, tuổi trung bình là 63,38 ± 19,06, (dao động từ 18 - 99 tuổi). Qua phân tích đơn biến, BN trên 60 tuổi, bệnh ngoại khoa, bệnh phổi mạn tính, hôn mê, thiểu dưỡng, nghiện thuốc lá, và mắc trên 2 BLCB cũng như các điều trị can thiệp như đặt NKQ, đặt lại NKQ, thở máy, MKQ, nuôi ăn qua thông dạ dày, hút đàm, phẫu thuật sọ não, và dùng các thuốc PPIs, kháng sinh, truyền máu, corticoid là những YTNC có liên quan đến VPBV (p<0,05). Qua phân tích hồi qui đa biến cho thấy hút thuốc lá (OR=2,6; 95%CI:1,32–5,1; p=0,006), hôn mê (OR=2,76; 95%CI:1,27–6; p=0,011), giảm albumin máu (OR=2,57; 95%CI:2,37–12,3; p=0,008), truyền máu (OR=3,17; 95%CI:1,27–7,9; p=0,014), dùng thuốc PPIs (OR=1,66; 95%CI:1,11–2,48; p=0,014), MKQ (OR=17,8; 95%CI:3,36-94,2; p=0,001) là những YTNC độc lập gây VPBV tại khoa HSTC. Số ngày nằm điều trị ở HSTC và số ngày nằm viện ở nhóm VPBV nhiều hơn nhóm không VPBV một cách có ý nghĩa (p<0,001).

Kết luận: Có nhiều YTNC gây VPBV, trong đó, như hút thuốc lá, hôn mê, giảm albumin máu, truyền máu, dùng thuốc PPIs, MKQ là những YTNC độc lập và đồng thời, VPBV kéo dài thời gian nằm viện.

ABSTRACT :

ANALYSIS OF RISK FACTORS FOR HOSPITAL-ACQUIRED PNEUMONIA AT INTENSIVE CARE UNIT OF KHANH HOA HOSPITAL

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 - Supplement of No 1 - 2013: 78 - 87

Objective: To analyse risk factors for hospital-acquired pneumonia (HAP) at intensive care unit (ICU) of Khanh Hoa hospital.

Method: Analytic cross-sectional study.

Results: From 5/2010 to 6/2011, there were 480 patients (pts) admitted at ICU of Khanh Hoa hospital, including 102 pts with HAP (21.25%) and 378 pts without HAP (78.75%). Among 102 with HAP, there were 62 male and 40 female, the average age was 63.38 ± 19.06, (range, 18 - 99 years old). Many risk factors related to HAP in the pts admitted at ICU consisted of age > 60 years old, operation, chronic obstructive pulmonary disease, coma, malnutrition, cigarette smoking, and having over 2 underlying diseases as well as intervention therapy such as tracheal intubation, repeat tracheal intubation, mechanical ventilation, tracheotomy, gastric intubation, sputum aspiration, brain surgery, and using PPIs, antibiotics, blood transfusion, and corticoides significantly (p<0.05). By analyzing multiple regression, cigarette smoking (OR=2.6; 95%CI:1.32–5.1; p=0.006), coma (OR=2.76; 95%CI:1.27–6; p=0.011), low blood albumin (OR=2.57; 95%CI:2.37–12.3; p=0.008), blood transfusion (OR=3.17; 95%CI:1.27–7.9; p=0.014), using PPIs (OR=1.66; 95%CI:1.11–2.48; p=0.014), tracheotomy (OR=17.8; 95%CI:3.36-94.2; p=0.001) were independent risk factors for HAP at ICU significantly (p<0.05). Time for treating at ICU and time for hospitalization in pts with HAP were more prolonged than in pts without HAP significantly (p<0.001).

Conclusion: There were many risk factors for HAP, among them, cigarette smoking, coma, low blood albumin, blood transfusion, using PPIs, tracheotomy were independent risk factors for HAP and simultaneous, HAP had prolonged time for hospitalization.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF