Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2014 - Tập 18 - Số 2
CHẨN ĐOÁN TÚI PHÌNH ĐỘNG MẠCH NÃO BẰNG CỘNG HƯỞNG TỪ MẠCH MÁU

Nguyễn An Thanh*

TÓM TẮT :

Mục tiêu: Nghiên cứu giá trị chẩn đoán: độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương và giá trị tiên đoán âm của kỹ thuật cộng hưởng từ mạch máu 3D-Time-of-flight (3D-TOF MRA) để phát hiện túi phình động mạch não, đánh giá tương quan với chụp mạch số hóa xóa nền (DSA).

Đối tượng và Phương pháp: Chụp cộng hưởng từ mạch máu bằng kỹ thuật 3D-Time-of-flight (3D-TOF MRA) cho 114 bệnh nhân có các dấu hiệu lâm sàng nghi ngờ túi phình động mạch não, mỗi bệnh nhân đều được chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) như một tiêu chuẩn vàng để xác định chẩn đoán.

Kết quả: Chụp mạch số hóa xóa nền phát hiện 130 túi phình động mạch não của 102 bệnh nhân trong số 114 bệnh nhân. Chụp cộng hưởng từ mạch máu (MRA) phát hiện 126 túi phình động mạch não. Với túi phình kích thước trung bình 5,9mm, 3D-TOF MRA có độ nhạy là 96,9%, độ đặc hiệu: 92,3%, độ chính xác 96,5%, giá trị tiên đoán dương: 99,2% và giá trị tiên đoán âm: 75,0%. Mức độ đồng ý giữa 3D-TOF MRA và DSA trong chẩn đoán túi phình động mạch não được đánh giá là rất tốt (Kappa, k = 0.81). Đối với túi phình nhỏ hơn 3 mm, 3D-TOF MRA có độ nhạy 95,8%.

Kết luận: Nghiên cứu này đã cho thấy khả năng của 3D-TOF MRA trong việc phát hiện túi phình động mạch não là rất cao. Sự cải tiến không ngừng về độ phân giải không gian và thời gian của kỹ thuật giúp MRA trở thành một phương pháp an toàn, không xâm lấn, là chọn lựa đầu tay rất hiệu quả để tầm soát các túi phình động mạch não.

Từ khóa: cộng hưởng từ mạch máu, túi phình động mạch não

ABSTRACT :

Objective: The purpose of this study was to investigate the sensitivity, specificity, positive predictive value and negative predictive value of 3D-time-of-flight (3D-TOF) magnetic resonance angiography (MRA) in the detection of cerebral aneurysms with the use of conventional digital subtraction angiography (DSA) as the gold standard.  

Methods: 3D-TOF MRA was performed in 114 patients with clinical dignosis suggested cerebral aneurysms. Each patient underwent conventional digital subtraction angiography (DSA) for the definite diagnosis.

Results: 114 patients underwent DSA and 3D-TOF MRA. 130 aneurysms of 102 patients were detected by DSA. 126 aneurysms were detected by 3D-TOF MRA.  3D-TOF MRA had a sensitivity of 96.9%, specificity of 92.3%, positive predictive value of 99,2% and negative predictive value of 75.0% in detection of aneurysms with the average size measuring 5,9mm. And strength of agreement between 3D-TOF MRA and DSA was good (Kappa, k=0.81).

Conclusions: This study indicates the good capability for detection of aneurysms by 3D-TOF MRA. The rapidly improving spatial and temporal resolution of 3D-TOF MRA make it becoming a safe, non-invasive and very efficient method for screening of intracranial aneurysms.

Key words: 3D-TOF MRA, cerebral aneurysms

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF