Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2013 - Tập 17 - Số 6
ĐỐI CHIẾU LÂM SÀNG VÀ TỔN THƯƠNG BỆNH HỌC CỦA HỘI CHỨNG THẬN HƯ NGUYÊN PHÁT

Huỳnh Ngọc Phương Thảo**, Nguyễn Thị Thu Thảo*, Nguyễn Xuân Thắng*, Nguyễn Hữu Nguyên*, Trần Hiệp Đức Thắng*

TÓM TẮT :

Đặt vấn đề: Chưa có nhiều dữ liệu về tỉ lệ các sang thương giải phẫu bệnh của hội chứng thận hư nguyên phát. Đây là báo cáo đầu tiên về mối liên quan lâm sàng và tổn thương bệnh học của HCTH nguyên phát tại Việt nam.

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ các loại sang thương giải phẫu bệnh, và mối liên quan lâm sàng, cận lâm sàng với các sang thương giải phẫu bệnh của HCTH nguyên phát.

Phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang, tiền cứu.

Kết quả: Trong thời gian 2 năm, chúng tôi tiến hành nghiên cứu 48 trường hợp HCTH nguyên phát, trong đó có HCTH lần đầu 25/48 (52,1%), HCTH tái phát 7/48 (14,6%), HCTH kháng thuốc (12/48) (25%), suy thận cấp trên nền HCTH 4/48 (8,3%). Tất cả lấy được mẫu thận nhưng có 47/48 (98,6%) có đủ cầu thận để kết luận. Trung bình số cầu thận là 19 cầu thận. Kết quả giải phẫu bệnh: Xơ chai cầu thận khu trú từng vùng (FSGS) chiếm tỉ lệ cao nhất 10/47 (21,2%), sang thương tối thiểu (MCD) 8/47 (17,1%), bệnh thận IgM 7/47 (14,9%), bệnh thận màng (MN) 6/47 (12,7%), tăng sinh màng (MPGN) 6/47 (12,7%), bệnh thận IgA 5/47 (10,9%). Biểu hiện lâm sàng của FSGS thường là tăng huyết áp, tiểu máu và suy thận; trong khi MCD thường có phù nhiều, tiểu đạm ngưỡng thận hư đơn thuần. MPGN thường có HCTH kết hợp hội chứng viêm thận cấp.

Kết luận: Sang thương gặp nhiều nhất trong HCTH nguyên phát ở người lớn là FSGS với biểu hiện thường gặp: tăng huyết áp, tiểu máu và suy thận.

Từ khóa: Hội chứng thận hư nguyên phát, mối liên hệ lâm sàng giải phẫu bệnh

ABSTRACT :

Huynh Ngoc Phuong Thao, Nguyen Thi Thu Thao, Nguyen Xuan Thang, Nguyen Huu Nguyen,
Tran Hiep Duc Thang
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 - No 6 - 2013: 58 - 64

Introduction: There is not enough epidemiologic data of biopsy proven primary nephrotic syndrome. This is the first report of clinicopathological correlation of primary nephrotic syndrome (NS) in Viet nam.

Objective: To present the prevalence of the different lesions of primary NS and clinicopathological correlation of primary NS.

Method: A prospective, cross sectional study

Results: Within 2 years, we proceeded to study in 48 patients with primary NS in which 25 De novo primary NS (52.1%), 7 relapse primary NS (14.6%), 12 refractory primary NS, and 4 primary NS with acute renal failure (8.3%). We got the kidney specimen each biopsy, however, only 47/48 (98.6%) had enough glomeruli to make the diagnosis. Mean of glomeruli per specimen was 19. The spectrum of pathological lesions comprised focal segmental glomerulosclerosis (FSGS) 10/47 (21.2%), minimal change disease (MCD) 8/47 (17.1%), IgM Nephropathy 7/47 (14.9%), IgA Nephropathy 5/47 (10.9%).Clinical manifestations of FSGS were often hypertention, hematuria and renal failure; otherwise, the ones of MCD were edema, isolated nephrotic proteinuria. The MPGN often presented NS with acute nephritis.

Conclusion: The most frequent lesion of adult primary NS was FSGS, presenting hypertension, hematuria and renal failure.

Keywords: Primary nephrotic syndrome, clinicopathological correlation.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF