Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2013 - Tập 17 - Số 6
THUYÊN TẮC HUYẾT KHỐI TRONG THAI KỲ: TRƯỜNG HỢP LÂM SÀNG

Huỳnh Văn Ân*, Nguyễn Thị Ngọc Trang**

TÓM TẮT :

Thai phụ 28 tuổi, phát hiện huyết khối tĩnh mạch sâu chân trái từ tuần thứ 13 của thai kỳ. Có nhau tiền đạo trung tâm, đa nhân xơ tử cung to. Thai phụ được nhập viện theo dõi và điều trị từ tuần thứ 24 của thai kỳ. Điều trị kháng đông với enoxaparine, đôi lúc bị ngắt quãng vì ra huyết âm đạo ít. Sau hơn 7 tuần điều trị, thai phụ được mổ lấy thai chủ động ở tuổi thai 31,5 tuần. Cuộc mổ thành công, một bé trai 1750g, APGAR 1 phút = 3, 5 phút = 6. Lý do chính làm tăng nguy cơ thuyên tắc huyết khối trong thai kỳ là tình trạng tăng đông, tình trạng này để bảo vệ phụ nữ khi sẩy thai và sinh con. Nguy cơ thuyên tắc huyết khối tăng 4-5 lần trong thai kỳ và giai đoạn hậu sản so với phụ nữ không mang thai. 80% biến cố thuyên tắc huyết khối trong thai kỳ là ở tĩnh mạch, với tỷ lệ từ 0,49 đến 1,72 trên 1000 thai kỳ. Yếu tố nguy cơ là tiền căn có huyết khối, thrombophilia di truyền hoặc mắc phải, tuổi mẹ >35, một vài bệnh nội khoa, và các biến chứng của thai kỳ và chuyển dạ. Những thai phụ cần dùng kháng đông là những người đang có thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (TTHKTM), tiền căn có TTHKTM, thrombophilia và có tiền căn thai kỳ không tốt, hoặc có các yếu tố nguy cơ TTHKTM giai đoạn hậu sản. Ở thời điểm chuyển dạ, thuốc kháng đông nên được điều chỉnh để giảm nguy cơ chảy máu trong khi vẫn hạn chế thấp nhất nguy cơ huyết khối.

Từ khóa: Huyết khối tĩnh mạch sâu, Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch, Thai kỳ.


ABSTRACT :

Huynh Van An, Nguyen Thi Ngoc Trang
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 - No 6 - 2013: 128 - 133

A 28-year-old pregnant woman was detected deep vein thrombosis in left leg at 13 weeks of gestation. Her ultrasound showed that she had complete placenta previa and multiple leiomyomas. She was administered for treatment from 24 weeks of gestation. Enoxaparine, an anticoagulant therapy,  was used for treatment in this case. Sometimes, treatment with Enoxaparine was interupted because of vaginal bleeding. After more than 7 weeks of treatment, she was undergone cesarean section at 31.5 weeks of gestation. After successful C-section, the baby boy’s APGAR scores was 3 at 1 min and 6 at 5 min, 1750 g birth weight. The main reason for the increased risk of thromboembolism in pregnancy is hypercoagulability, which has likely evolved to protect women from the bleeding challenges of miscarriage and childbirth. Women are at a 4- to 5-fold increased risk of thromboembolism during pregnancy and the postpartum period compared with when they are not pregnant. Eighty percent of the thromboembolic events in pregnancy are venous, with an incidence of 0.49 to 1.72 per 1000 pregnancies. Risk factors include a history of thrombosis, inherited and acquired thrombophilia, maternal age greater than 35, certain medical conditions, and various complications of pregnancy and childbirth. Candidates include women with current venous thromboembolism (VTE), a history of VTE, thrombophilia and a history of poor pregnancy outcome, or risk factors for postpartum VTE. At the time of delivery, anticoagulation should be manipulated to reduce the risk of bleeding complications while minimizing the risk of thrombosis.

Key words: Deep Venous Thrombosis, Venous Thromboembolism, Pregnancy

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF