Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2014 - Tập 18 - Số 6
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ THỦ THUẬT THÔNG LỆ ĐẠO KẾT HỢP NỘI SOI MŨI TRONG ĐIỀU TRỊ TẮC LỆĐẠO BẨM SINH

Nguyễn Thành Danh*, Cao Minh Thức*, Nguyễn Thị Bạch Tuyết*

TÓM TẮT :

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của thủ thuật thông lệ đạo có kết hợp nội soi mũi trong điều trị bệnh lý tắc lệ đạo bẩm sinh.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng không nhóm chứng, tiến hành tại bệnh viện Nhi Đồng 2 thành phố Hồ Chí Minh từ 8/2011 – 8/2012. Tổng số 31 mắt của 23 bệnh nhi bị tắc lệ đạo bẩm sinh từ trên 6 tháng tuổi được điều trị bằng phương pháp thông lệ đạo có kết hợp nội soi mũi dưới gây mê toàn thân. Theo dõi và đánh giá kết quả điều trị sau 6 tháng.

Kết quả: 23 bệnh nhi (12 nam và 11 nữ) từ 6 tháng đến 60 tháng tuổi. 8 trẻ bị tắc đạo bẩm sinh hai mắt. Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 16,6 ± 13,5 tháng tuổi. 21/31 mắt đã tiến hành thông lệ đạo trước đó. Tỷ lệ thành công chung của thông lệ đạo kết hợp nội soi mũi là 90,3% (28/31 mắt) tại thời điểm 6 tháng sau thủ thuật. Tỷ lệ thành công phụ thuộc vào nguyên nhân tắc nghẽn và tỷ lệ nghịch với số lần thông lệ đạo trước đó. 4/31 mắt (12,9%) xuất hiện biến chứng chảy máu trong lúc tiến hành thủ thuật. 5/31 mắt (16,1%) xảy ra tình trạng thông sai đường. Tất cả các trường hợp thông sai đường đều được nội soi mũi phát hiện và hướng dẫn thông đúng đường.

Kết luận: Phương pháp thông lệ đạo có kết hợp nội soi mũi cho tỷ lệ thành công cao, giúp phát hiện nguyên nhân gây tắc nghẽn và hạn chế biến chứng thông sai đường.

Từ khóa: Tắc lệ đạo bẩm sinh, thông lệ đạo, nội soi mũi.

ABSTRACT :

RESULTS OF ENDOSCOPIC ASSISTED PROBING
FOR CONGENITAL NASOLACRIMAL DUCT OBSTRUCTION

Nguyen Thanh Danh, Cao Minh Thuc, Nguyen Thi Bach Tuyet
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 - No 6 - 2014: 22 - 28

Objective: To evaluate the results of lacrimal probing with the use of nasal endoscopy for congenital nasolacrimal duct obstruction.

Methods: In a prospective study, at the Children’s Hospital 2, HCM city, from August - 2011 to August - 2012. 31 eyes of 23 childrens with congenital nasolacrimal duct obstruction (CNLDO) underwent probing of the lacrimal duct under general anaesthetic in conjunction with nasal endoscopy. Patients followed up for 6 months.

Results: A total of 23 childrens were included in the study and 31 lacrimal drainage system underwent endoscopic probing. The age range was 6-60 months (mean 16.6 ± 13.5 months). 21/31 eyes had previous probing. The overall success rate was 90.3% (28/31 eyes). The outcome depended on the level of the obstruction and previous probing. There were no sirious complications notes although 4/31 eyes (12.9%) nasal bleeding and 5/31 eyes (16.1%) had false passage.

Conclusions: Nasolacrimal duct probing under direct nasal endoscopic visualization can be considered as the standard treatment of CNLDO as it minimizes intranasal trauma and leads to a better surgical outcome.

Key words: Congenital nasolacrimal duct obstruction (CNLDO), probing, nasal endoscopy.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF