Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2014 - Tập 18 - Số 6
ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT BỆNH HỞ VAN HAI LÁ BẨM SINH ĐƠN THUẦN

Văn Hùng Dũng*

TÓM TẮT :

Mục tiêu: Phẫu thuật điều trị hở van hai lá bẩm sinh thường gặp nhiều khó khăn do phẫu trường nhỏ và kỹ thuật ứng dụng hạn chế. Nghiên cứu này nhằm xác định kết quả dài hạn của phẫu thuật hở van hai lá bẩm sinh theo phương pháp Carpentier tại Viện Tim TP.HCM.         

Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu 85 bệnh nhân hở van hai lá bẩm sinh được phẫu thuật theo phương pháp sửa van hai lá của Carpentier.

Kết quả: Tuổi trung bình là 8,9 tuổi ( 6 tháng - 45 tuổi), trong đó nhóm tuổi dưới 6 tuổi chiếm 31 trường hợp (36,5%). Nam giới 42 (49,4%). Siêu âm tim qua thành ngực chẩn đoán chính xác nguyên nhân bẩm sinh trong 40% trường hợp. Tạo hình van chiếm 83 trường hợp (97,6%), hai trường hợp phải thay van nhân tạo.Số kỹ thuật trung bình được thực hiện trên một bệnh nhân là 2,5 (ít nhất 1, nhiều nhất 5 kỹ thuật), 64 trường hợp (75,3%) có dặt vòng van nhân tạo. Biến chứng gần sau mổ thấp ( suy tim nặng 5, rối loạn nhịp tim 12, suy thận cấp 1, nhiễm khuẩn huyết 1, viêm phổi 3). Tử vong phẫu thuật là 1,1% (1 trường hợp). So sánh trước và sau mổ sớm, có sự giảm có ý nghĩa độ hở van hai lá : trước mổ (100% đều hở van nặng) và sau mổ: không hở hoặc hở nhẹ 85,7% (72), hở trung bình 14% (12) và hở nặng 1,2%, p < 0,001. Thời gian theo dõi trung bình 108 ± 67,5 tháng 4,8% số BN mất theo dõi. Ở thời điểm theo dõi sau cùng (ngắn nhất 18 tháng và dài nhất 19 năm) có 7 BN hở van tim nặng tái phát, 15 hở van trung bình còn lại hở nhẹ hoặc không hở. 7 BN phải mổ lại vì hở van tái phát (từ 1 đến 180 tháng sau mổ). Tử vong muộn chỉ 1 trường hợp do xuất huyết não. Tỉ lệ còn sống thực tế sau 19 năm theo dõi là 94,1 ± 2,5%. Tỉ lệ thực tế BN không bị mổ lại sau 19 năm theo dõi là 83 ± 5,3%.

Kết luận: Hở van 2 lá có nguyên nhân bẩm sinh là một bệnh lý phức tạp và khó chẩn đoán chính xác trước mổ. tao 5hi2nh van là chọn lựa chủ yếu đối với hở van 2 lá bẩm sinh ở trẻ em, kết quả điều trị phẫu thuật theo phương pháp carpentier về dài hạn rất tốt.

Từ khóa: Hở van hai lá.

ABSTRACT :

SURGICAL TREATMENT FOR ISOLATED CONGENITAL MITRAL REGURGITATION

Van Hung Dung * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 - No 6 - 2014: 81 - 86

Objective: Surgical treatment for congenital mitral regurgitation especially in young children often encounter many difficulties because of small surgical field and limited techniques used. This study determines the long-term result of the surgical treatment for isolated congenital mitral regurgitation with Carpentier’s techniques

Methods: A retrospective study from Feb 1993 to Dec 2010, 85 patients with isolated congenital mitral regurgitation were operated with Carpentiers techniques at The Heart Institute of HCM City, Viet Nam.

Results: Mean age was 8.9 years (range from 0.5 to 45 years old), among them there were 31 patients (36.5%) under 6 year of ages. Female patients was 43 (51.6%). Diagnosis pre-op by echocardiography was exact only in 40% patients.Valve repair was performed sucessfully in 97.6% and only 2 cases had to change the native valve by prosthetic valve. The mean number of techniques per patients is 2,5 (min 1, max 5), Carpentier-Edwards rigid ring was used in 64 patients (75.3%). Immediate postoperative complications were low (severe LCO 5.9%, arrhythmias 14%, severe infection 4.7% and re-operation 1.1%). 30-day mortality rate was only 1 patient (1.1%). The mean time of follow-up was 108 ± 67.5 months( 18 – 228 months).4.8% patients has losted followup.During follow-up, 7 patients need to re-operation (1- 130 months).Evaluation MR by echocardiography at the last follow-up showed 7 patients were severe MR, 15 others were moderate MR and the rest were mild or no MR. Actuarial rate of freedom from re-operation at 19-year follow-up was 83 ± 5.3%. Late death was one patients . Actuarial rate of survival at 19 year was 94.1 ± 2.5%

Conclusion: Isolated congenital MR is always complex and difficult to diagnose before operation. In almost cases, mitral valve repair should be the primary choice to congenital MR. Mitral valve repair in children with Carpentiers techniques has very good long-term results with very low mortality and acceptable re-operation rate.

Key words: Mitral regurgitation (MR).

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF