Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2015 - Tập 19 - Số 1
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ RÒ ĐỘNG-TĨNH MẠCH THẬN

Nguyễn Thành Tuân*, Nguyễn Vĩnh Bình*, Thái Kinh Luân*, Trần Ngọc Sinh*, Thi Văn Gừng***, Trần Trọng Trí**

TÓM TẮT :

Mở đầu: Rò động tĩnh mạch thận là những thông nối bất thường giữa hệ thống động mạch và tĩnh mạch trong thận. Những bất thường này có thể do bẩm sinh hoặc mắc phải. Chọn lựa điều trị thay đổi tùy theo từng bệnh nhân, bao gồm: điều trị bảo tồn, can thiệp nội mạch hay phẫu thuật. Nói chung, lựa chọn điều trị ban đầu của rò động tĩnh mạch thận có triệu chứng thường là thuyên tắc mạch dưới sự hướng dẫn của chụp hình mạch máu.

Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị rò động-tĩnh mạch thận tại bệnh viện Chợ Rẫy.

Phương pháp nghiên cứu: Báo cáo mô tả hàng loạt trường hợp.

Kết quả: Có 34 trường hợp được điều trị rò động-tĩnh mạch thận tại bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 01/2008 đến tháng 04/2014, bao gồm 22 trường hợp được can thiệp nội mạch, 4 trường hợp được phẫu thuật và 8 trường hợp được điều trị bảo tồn.Tỷ lệ thành công của can thiệp nội mạch là 81,8%, tỷ lệ biến chứng của can thiệp nội mạch là 36,3% và tỷ lệ tái phát của can thiệp nội mạch là 21,1%. Tất cả các trường hợp phẫu thuật đều thành công và chưa ghi nhận tái phát. Thời gian theo dõi trung bình là 26 tháng.

Kết luận: Can thiệp nội mạch là phương pháp điều trị nên được lựa chọn trong rò động-tĩnh mạch thận có triệu chứng. Phẫu thuật được chỉ định đối với trường hợp rò động-tĩnh mạch thận lớn hoặc tái phát sau can thiệp nội mạch.

Từ khoá: Rò động-tĩnh mạch thận, can thiệp nội mạch, thuyên tắc động mạch, ghép thận tự thân.

ABSTRACT :

Background: Renal arteriovenous fistulas are abnormal communications between the renal arterial and venous systems. These malformations are either congenital or acquired. Treatment can be considered to the individual patient, options for therapy range from observation to embolization to nephrectomy. Generally, the initial therapy for treatment of renal arteriovenous fistulas is angiographically guided embolization of the fistula.

Objective: The study evaluates the results of management for renal arteriovenous fistulas at Cho Ray hospital.

Methods: The study is a case series report.

Results: There were34 cases of renal arteriovenous fistulas at Cho Ray hospital from January 2008 to April 2014: 22 cases of endovascular intervention, 4 cases of operation management and 8 cases of conservative management. The successful rate of endovascular intervention was 81.8%, the rate of complication was 36.3% and the rate of recurrence was 21.1%. All of the operation cases were successful and the recurrences were not detected. The mean time of following up was 26 months.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF