Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2015 - Tập 19 - Số 3
ĐẶC ĐIỂM BỆNH NHI NHIỄM NẤM TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC - CHỐNG ĐỘC - BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1 TỪ 1/2009 ĐẾN 12/2013

Phùng Nguyễn Thế Nguyên**, Dương Thiện Trang Thi *, Nguyễn Minh Tiến*, Nguyễn Hữu Nhân*

TÓM TẮT :

Mục tiêu: Xác định các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và vi sinh ở bệnh nhi nhiễm nấm ở một khoa hồi sức hàng đầu về nhi khoa.

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả 42 trường hợp nhiễm nấm tại khoa Hồi sức Tích cực – Chống độc bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 01/2009 đến tháng 12/2013.

Kết quả: Tỉ lệ nam/nữ là 2:1 với 71,4% trẻ dưới 1 tuổi. Các triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất bao gồm: sốt kéo dài không đáp ứng kháng sinh (23,8%), sốc mất bù (31%), suy hô hấp phải đặt nội khí quản (4,8%), cai máy thất bại (7,1%). Tăng bạch cầu được ghi nhận trong 26,2% trường hợp, thiếu máu chiếm tỉ lệ 54,8% và giảm tiểu cầu chiếm 50%. Tỉ lệ tăng men gan và suy thận lần lượt là 45,2% và 14,3%. Nấm được phân lập từ máu trong 42,9% trường hợp và 57,1% từ NTA/ETA. Kết quả phân lập nấm theo thứ tự là: C. albicans (57,1%), C. tropicalis (28,6%), C. parapsilosis (4,8%), C. famata (4,8%), C. glabarta (2,4%) và Saccharomyces cerevisiae (2,4%). Tỉ lệ nhiễm nấm phối hợp vi khuẩn là 23,8%. Không ghi nhận trường hợp nào kháng amphotericin B. Tỉ lệ kháng flucytosine, itraconazole, voriconazole và fluconazole lần lượt là 7,1%, 88,1%, 83,3% và 78,6%.

Kết luận: Nhiễm nấm vẫn là một thách thức trong quá trình chẩn đoán. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng thường không đặc hiệu. Candida albicans vẫn là tác nhân thường gặp nhất. Không ghi nhận trường hợp nào kháng amphotericin B trong khi tỉ lệ kháng thuốc của nhóm azole rất cao. Cần cấy bệnh phẩm tìm nấm sớm trước một bệnh nhi có nhiều yếu tố nguy cơ và có biểu hiện nhiễm khuẩn bệnh viện.

Từ khóa: Nhiễm nấm, Candida albicans, nhiễm khuẩn bệnh viện.

ABSTRACT :

Objective: To evaluate clinical manifestations, laboratory tests, species distribution and in vitro antifungal susceptibilities in patients with fungal infection.

Methods: A retrospective study of 42 patients admitted to the Toxicology – Intensive care Unit at Children Hospital 1 from 01/2009 – 12/2013.

Results: Male/female ratio was 2/1 and 71.4% of patients were younger than one year old. The most common clinical presentations included prolonged fever after antibiotics therapy (23.8%), uncompensated shock (31%), progress of respiratory failure that needed endotracheal intubation (4.8%) and failure of weaning from mechanical ventilation (7.1%). Leukocytosis (26.2%), anemia (54.8%) and thrombocytopenia (50%) were found in complete blood count. In addition, the rates of renal failure and hepatic lesion were 14.3% and 45.2%, respectively. Sources of positive fungal culture included blood (42.9%) and NTA/ETA (57.1%). The species distribution was as follows: C. albicans (57.1%), C. tropicalis (28.6%), C. parapsilosis (4.8%), C. famata (4.8%), C. glabrata (2.4%) and Saccharomyces cerevisiae (2.4%). No case was resistant to amphotericin B in vitro. Overall resistance rates for the other agents were 7.1% for flucytosine, 88.1% for itraconazole, 83.3% for voriconazole and 78.6% for fluconazole.

Conclusions: Nosocomial fungal infection is still a challenge in diagnosis. Clinical manifestations and laboratory tests are non-specific. Candida albicans was the predominant pathogen. No case was resistant to amphotericin B while the resistance rates of azoles were very high. Culture for fungi should be indicated if the patient has many risk factors for hospital – acquired fungal infection.

Key words: Fungal infection, risk factors for hospital – acquired fungal infection.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF