Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2015 - Tập 19 - Số 3
ĐỘT BIẾN GEN WAS TRONG HỘI CHỨNG WISKOTT-ALDRICH

Phan Thị Xinh*,**, Hoàng Anh Vũ***

TÓM TẮT :

Mục tiêu: Hội chứng Wiskott-Aldrich là rối loạn miễn dịch tiên phát liên kết nhiễm sắc thể X hiếm gặp, đặc trưng bởi tam chứng: chàm, giảm tiểu cầu và nhiễm trùng nặng – tái phát. Hội chứng này do đột biến gen WAS gây nên. Nghiên cứu này nhằm thiết lập và ứng dụng quy trình kỹ thuật giải trình tự chuỗi DNA để xác định được các dạng đột biến khác nhau của gen WAS trên bệnh nhân Việt Nam.

Đối tượng và phương pháp: Chúng tôi thiết kế các cặp mồi đặc hiệu để khuếch đại 12 exon và vùng tiếp giáp exon – intron của gen WAS từ tế bào trong máu của 7 bệnh nhân sơ sinh bị hội chứng Wiskott-Aldrich. Các sản phẩm PCR được giải trình tự theo kỹ thuật Sanger trên hệ thống ABI 3130 Genetic Analyzer và phân tích bằng phần mềm CLC Main Workbench.

Kết quả: Chúng tôi đã khuếch đại được toàn bộ vùng mã hóa protein của gen WAS bằng 2 cặp mồi, với kích thước sản phẩm PCR là 2459 bp và 4603 bp. Kết quả giải trình tự DNA đã phát hiện được 5 đột biến khác nhau, bao gồm 3 đột biến của exon 4 (c.397G>A, c.436C>T và c.372_375insGG), 1 đột biến của exon 7 (c.665delC) và 1 đột biến của exon 10 (c.1267_1271insG).

Kết luận: Kỹ thuật giải trình tự DNA phát hiện được các kiểu đột biến đa dạng của gen WAS, giúp hỗ trợ cho chẩn đoán xác định hội chứng Wiskott-Aldrich trên trẻ em Việt Nam.

Từ khóa: Hôi chứng Wiskott-Aldrich, gen WAS, exon, đột biến.

ABSTRACT :

Purpose: Wiskott – Aldrich syndrome is a rare X-linked primary immunodeficiency disorder characterized by the triad of eczema, thrombocytopenia, and severe and often recurrent infection. Mutations in the WAS gene cause this syndrome. We conducted this study to set up a DNA sequencing procedure for investigating WAS mutations in Vietnamese patients.

Methods: We designed specific primers for amplification of 12 WAS exons and exon – intron boundaries from blood of 7 infant patients with Wiskott – Aldrich syndrome. PCR products were sequenced using Sanger’s technique on an ABI 3130 Genetic Analyzer system and analyzed with the CLC Main Workbench software.

Results: We successfully amplified the coding region of WAS gene by 2 sets of primer pair, generating PCR products of 2459 bp and 4603 bp. Sequencing analyses detected 5 mutations in patient’s samples, including 3 in exon 4 (c.397G>A, c.436C>T, and c.372_375insGG), 1 in exon 7 (c.665delC), and 1 in exon 10 (c.1267_1271insG).

Conclusion: DNA sequencing can detect different types of WAS mutation which facilitates confirmation of Wiskott – Aldrich syndrome in Vietnamese childhood patients.

Key words:  Wiskott – Aldrich syndrome, WAS gene, exon, mutation.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF