Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2016 - Tập 20 - Số 1
VAI TRÒ CỦA CHỤP X QUANG HỆ NIỆU CÓ CẢN QUANG ĐƯỜNG TĨNH MẠCH VÀ CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH TRONG CHẨN ĐOÁN TẬT NIỆU QUẢN CẮM LẠC CHỖ Ở ÂM ĐẠO

Đặng Văn Hoàng*, Phạm Ngọc Hoa**

TÓM TẮT :

Mở đầu: Niệu quản lạc chỗ là một dị dạng hiếm gặp trong các bệnh lý bẩm sinh của hệ tiết niệu. Niệu quản lạc chỗ ở âm đạo gây tình trạng tiểu rỉ liên tục từ lúc mới sinh. Việc chỉ định chụp X quang hệ niệu cản quang đường tĩnh mạch (XQHNCCQĐTM) và chụp cắt lớp vi tính (CLVT) để chẩn đoán niệu quản lạc chỗ trên cùng một bệnh nhi vừa gây tốn kém, bệnh nhi phải nhận nhiều thuốc cản quang và nhiễm tia không cần thiết.

Mục tiêu: Đánh giá giá trị chẩn đoán của chụp XQHNCCQĐTM và CLVT trong chẩn đoán tật niệu quản cắm lạc chỗ ở âm đạo.

Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu lại 43 trường hợp bị niệu quản lạc chỗ ở âm đạo đã được phẫu thuật có chụp XQHNCCQĐTM và CLVT.

Kết quả: Chụp CLVT chẩn đoán được 100% trường hợp niệu quản lạc chỗ ở 31 bệnh nhi trong khi chụp XQHNCCQĐTM chỉ chẩn đoán được 4,6% trường hợp niệu quản lạc chỗ ở 22 bệnh nhi. Ở 10 trường hợp có thực hiện cả hai kỹ thuật chẩn đoán, chụp CLVT chẩn được 10 trường hợp niệu quản lạc chỗ, chụp XQHNCCQĐTM chỉ chẩn đoán được 1 trường hợp niệu quản lạc chỗ.

Kết luận: Giá trị chẩn đoán niệu quản lạc chỗ của chụp CLVT là rất cao, trong khi đó chụp. XQHNCCQĐTM cho giá trị chẩn đoán rất thấp, vì vậy chụp CLVT có thể thay thế chụp XQHNCCQĐTM để chẩn đoán sớm dị tật niệu quản cắm lạc chỗ ở âm đạo.

Từ khoá: Chụp Xquang hệ niệu có cản quang đường tĩnh mạch, chụp cắt lớp vi tính, niệu quản lạc chỗ ở âm đạo.

ABSTRACT :

Background: Ectopic ureter is a rare congenital malformation of the urinary system. Vaginal ectopic ureter causes continuous urine leak since birth. The indication of intravenous urography (IVU) and computed tomography (CT) in diagnosis of ectopic ureter on the same pediatric patient increases cost, contrast usage and unnecessary radiation contamination.

Objectives: The aim of the study was to assess diagnostic value of IVU and CT in diagnosis of vaginal ectopic ureter.

Materials and Methods: Retrospective study of 43 ectopic ureter cases operated which have been taken IVU and CT.

Results: The diagnostic accuracy is 100% in computed tomography and 4.6% in IVU in diagnosis of ectopic ureter. In 10 cases taken both diagnostic tools, abnormal findings were recognized in all CT (10/10) as compared to one in IVU (1/10).

Conclusion: The diagnostic value of CT ectopic ureter is very high as compared to low value of IVU. Therefore, CT can replace IVU in early diagnosis of vaginal ectopic ureter.

Key words: intravenous urography, computed tomography, vaginal ectopic ureter.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF