Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2016 - Tập 20 - Số 1
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, HÌNH ẢNH HỌC VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NHỮNG TRƯỜNG HỢP NUỐT DỊ VẬT CÓ CHỦ Ý

Lý Hữu Tuấn*, Dương Thị Ngọc Sang*, Nguyễn Văn Hải

TÓM TẮT :

Mục tiêu: xác định các đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học, loại dị vật (DV) và đánh giá kết quả điều trị nội khoa bảo tồn, điều trị can thiệp qua nội soi tiêu hóa và phẫu thuật lấy dị vật của những trường hợp nuốt dị vật có chủ ý.

Phương pháp nghiên cứu: báo cáo hàng loạt ca, hồi cứu.

Kết quả: có 40 trường hợp thỏa các tiêu chuẩn về chọn mẫu nghiên cứu với số lượng 35 nam và 05 nữ. Tuổi nhỏ nhất là 17, lớn nhất là 42, trung bình 27,1 ± 6 tuổi. Có 39/40 trường hợp bệnh nhân là đối tượng đang ở trại cai nghiện. Thời gian từ lúc nuốt DV đến lúc nhập viện ngắn nhất là 01 ngày, dài nhất là 90 ngày, trung bình 7,6 ± 15 ngày. Thống kê triệu chứng lâm sàng : 26 trường hợp đau bụng, 2 trường hợp tiêu lỏng, 1 trường hợp khó đi tiêu, 3 trường hợp tiêu phân đen, 9 trường hợp sốt, 6 trường hợp có phản ứng thành bụng, 1 trường hợp thăm hậu môn sờ được dị vật cắm vào thành trực tràng. Chúng tôi phát hiện DV qua X quang bụng 39/40 trường hợp (một trường hợp DV là tiền polymer không cản quang), thường gặp nhất là DV cặp kẽm hình chữ X ( 19 trường hợp). Thống kê kết quả điều trị: điều trị bảo tồn thành công 04/15 trường hợp, 11 trường hợp còn lại theo dõi tại trung tâm; nội soi dạ dày lấy DV 16 trường hợp (thành công 2 trường hợp, thất bại 14 trường hợp); can thiệp ngoại khoa 23 trường hợp. Không có trường hợp nào tử vong.

Kết luận: DV trong các trường hợp nuốt có chủ ý khá đa dạng, từ đơn giản đến phức tạp, là những vật dụng chúng ta dễ dàng tìm thấy xung quanh. Đối tượng nuốt DV có chủ ý phần lớn là đối tượng ở trại cai nghiện nhằm mục đích tìm cơ hội ra ngoài, trốn trại. DV thường gặp ở đây là cặp dây kim loại hình chữ X. DV này khó lấy qua nội soi, khó đi qua môn vị, dễ gây biến chứng, đòi hỏi can thiệp ngoại khoa, tăng thời gian nằm viện và chi phí điều trị. Đa số bệnh nhân nhập viện với các triệu chứng mơ hồ không đặc hiệu, hoặc rầm rộ khi xảy ra biến chứng. X quang bụng không sửa soạn hữu ích trong việc phát hiện DV ( đối với DV có cản quang), giúp theo dõi sự di chuyển của DV, kiểm tra sự hiện diện của DV trong các trường hợp điều trị bảo tồn. Tỉ lệ phải can thiệp ngoại khoa cao, 23 trường hợp (57,5%); lấy qua được nội soi chỉ 02 trường hợp (05%), bảo tồn thành công rõ ràng chỉ 04 trường hợp (10%) với các dị vật nhỏ.

Từ khóa: nuốt có chủ ý, dị vật

ABSTRACT :

Objective: to determine the clinical and imaging characteristics, type of foreign bodies and treatment results (preservative, endoscopic and surgical treatment) of foreign body voluntary swallowing cases. 

Method: retrospective case-series.

Result: there were 40 cases (35 male, 5 female) in the series. Mean age was 27.1±6 (17-42). In most of the cases (39/40), patients were prisoners or inpatients of Withdrawal Management Center (WMC). Time from the accident to hospital admission was 1-90 days (mean 7.6 days). Clinical manifestations were: abdominal pain (26), diarrhea (2), difficult defecation (1), melena (3), fever (9), peritoneal tenderness (6), and one case with palpable foreign body in the rectum. Abdominal X- ray could detect foreign body in 39 of 40 cases (there is only one case with non-radiocontrast polymer money). In 19 cases, the foreign bodies were the X-shape metal pieces. Treatment results: clearly successful preservative treatment in 4/15 cases (other 11 cases were followed up by the WMC), successful endoscopic treatment in 2/16 cases (other 14 cases were failed), surgical treatment in 23 cases with no post-op complication nor death.

Conclusion: Foreign bodies in voluntary- swallowing cases were in various types, and were made of usual objects. Almost patients in these cases wanted to be out of prison or the WMC. In half of the cases, the foreign bodies were the X-shape metal pieces which made difficulty in treatment, increased the complication rate, hospital length of stay and treatment cost. Clinical manifestations were not specific. Ability in foreign body detection of abdominal X-ray was high. It was also good for follow up foreign body movement. Surgical indication was high (57.5%) while successful rate of endoscopic treatment was low (5%).       

Key words: voluntary swallow, foreign body.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF