Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2016 - Tập 20 - Số 2
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ BAN ĐẦU CỦA PHẪU THUẬT TẠO HÌNH KHÚC NỐI BỂ THẬN NIỆU QUẢN KIỂU CẮT RỜI HYNES ANDERSON QUA NỘI SOI SAU PHÚC MẠC

Ngô Đại Hải*, Nguyễn Tuấn Vinh*, Vũ Lê Chuyên*

TÓM TẮT :

Mục tiêu: nhằm đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật tạo hình khúc nối bể thận – niệu quản kiểu cắt rời qua nội soi sau phúc mạc (nội soi hông lưng).

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Từ tháng 5/2006 đến tháng 9/2010 tại khoa Ngoại Niệu bệnh viện Bình Dân có 116 bệnh nhân với chẩn đoán hẹp khúc nối bể thận – niệu quản nguyên phát được phẫu thuật tạo hình khúc nối qua nội soi sau phúc mạc. Chúng tôi đặt 3 hoặc 4 trocar ở vùng hông lưng sau khi đã bơm hơi bong bóng để tạo khoang làm việc sau phúc mạc, tạo hình khúc nối kiểu cắt rời Hynes – Anderson, khâu nối bể thận – niệu quản bằng chỉ Vicryl 4.0, có đặt thông JJ lưu trong lúc mổ, chuyển vị khúc nối khi có mạch máu bất thường chèn ép, lấy sỏi thận thứ phát kết hợp qua vết cắt mở bể thận khi tạo hình lại khúc nối. Đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật qua các thông số ghi nhận trong lúc mổ và trong thời gian hậu phẫu gần.

Kết quả: Tất cả 116 trường hợp đều được phẫu thuật thành công qua ngã nội soi sau phúc mạc. Thời gian mổ trung bình là 128,8 phút (65 – 260). Lượng máu mất trung bình là 13,2 ml (1 – 100). Thời gian dùng thuốc giảm đau trung bình là 5,2 ngày (2 – 11). Thời gian nằm viện trung bình là 5,8 ngày (3 – 16). Mạch máu bất thường cực dưới được phát hiện trong 38 trường hợp (32,8%). Có 8 trường hợp có sỏi thận thứ phát kết hợp. Có 1 trường hợp bị thủng phúc mạc trong lúc bóc tách tìm niệu quản và 81 trường hợp bị tràn khí dưới da nhưng ở mức độ nhẹ không cần xử trí đặc hiệu. Trong hậu phẫu có 1 trường hợp liệt ruột, 1 trường hợp viêm đài bể thận và 2 trường hợp dò nước tiểu kéo dài nhưng tự ổn sau 8 và 12 ngày.

Kết luận: Phẫu thuật tạo hình khúc nối bể thận – niệu quản kiểu cắt rời qua nội soi sau phúc mạc là một phẫu thuật an toàn, có thể áp dụng trong điều trị bệnh lý hẹp khúc nối.

Từ khóa: hẹp khúc nối bể thận – niệu quản, Hynes-Anderson, nội soi sau phúc mạc (nội soi hông lưng).

ABSTRACT :

Objectives: to present our early results of retroperitoneal laparoscopic dismembered pyeloplasty for treating ureteropelvic junction (UPJ) obstruction.

Materials and Methods: From May 2006 to September 2010, at Binh Dan Hospital, 116 patients with primary UPJ obstruction underwent retroperitoneal laparoscopic pyeloplasty. A three to four – port, balloon – dissecting technique was used. The type of UPJ repair performed was Hynes – Anderson. All anastomoses were completed intracorporally with 4.0 Vicryl sutures. Ureteral transposition and/or concomitant pyelolithotomy was performed as needed. The outcome was assessed during intraoperative and postoperative time.

Results: All operations were successfully completed laparoscopically. Mean operating time was 128.8 minutes (65 – 260). Mean estimated blood loss was 13.2 ml (1 – 100). Mean hospital stay was 5.8 days (3 – 16). A crossing vessel was found in 38 patients (32.8%). Eight patients had concomitant renal stones. No remarkable intraoperative complication occurred. There were 4 postoperative complications: 1 with transient ileus, 1 with pyelonephritis, and 2 with prolonged urine leakage but self-settled after 8 and 12 days follow-up.

Conclusions: In our condition, retroperitoneal laparoscopic dismembered pyeloplasty is a safe and effective alternative treatment for UPJ obstruction.

Key words: ureteropelvic junction obstruction, dismembered pyeloplasty, retroperitoneal laparoscopy.


Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF