Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2016 - Tập 20 - Số 2
ĐIỀU TRỊ SỎI NIỆU QUẢN ĐOẠN LƯNG VÀ SỎI BỂ THẬN QUA NỘI SOI MỘT VẾT MỔ SAU PHÚC MẠC VÙNG HÔNG LƯNG

Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng*, Đỗ Lệnh Hùng*, Nguyễn Triết *

TÓM TẮT :

Đặt vấn đề và mục tiêu: Báo cáo và đánh giá tính khả thi, độ an toàn của phẫu thuật nội soi một vết mổ sau phúc mạc vùng hông lưng (Retroperitoneal LaparoEndoscopic Single-Site) mở niệu quản và mở bể thận lấy sỏi lần đầu tiên thực hiện tại bệnh viện Bình Dân.

Tư liệu và phương pháp nghiên cứu: Trình bày 10 trường hợp mổ mở bể thận, mở niệu quản vùng hông lưng lấy sỏi qua nội soi một vết mổ sau phúc mạc ở vùng hông lưng thực hiện tại Khoa Niệu B bệnh viện Bình Dân từ 5/2014 đến 4/2015. Bệnh nhân nằm ở tư thế mổ thận cổ điển. Rạch da dài 1,5 cm ngay dưới xương sườn hay ngay đầu xương sườn 12 trên đường nách sau, cắt mở cân cơ lưng tối thiểu qua đường rạch da này (mini-lumbotomy). Dùng ngón tay và bong bóng bơm hơi bóc tách vùng sau phúc mạc, ngoài cân Gerota. Đặt trocart đa kênh chuyên dụng loại X-cone® (Storz) vào đường mở lưng nhỏ này. Bơm hơi CO2 sau phúc mạc, áp lưc 12 mmHg. Nội soi sau phúc mạc bằng ống soi 5 mm chuyên dụng. Dùng dụng cụ phẫu thuật thẳng xẻ cân Gerota, phẫu tích niệu quản lưng hoặc từ niệu quản lên bể thận chỗ có sỏi. Mở niệu quản bằng móc điện, nạy sỏi ra, đặt thông niệu quản lưu, khâu lại niệu quản bằng mũi khâu vắt. Rút port X-cones ra, gắp sạn ra ngoài, đặt ống dẫn lưu vùng mổ qua vết mở lưng, khâu vết mổ. Đánh giá kết quả phẫu thuật và dữ liệu được thu thập trong và sau cuộc mổ.

Kết quả: Có 8 bệnh nhân nam và 2 bệnh nhân nữ. Mười bệnh nhân với 11 viên sỏi với một bệnh nhân có hai viên sỏi cùng bên. Tuổi trung bình: 42,9 (25-55). ASA trước mổ: I: 2/10, II: 8/10. Sỏi niệu quản: 7/10 (Trái: 5/7, Phải:2/7), Sỏi bể thận (khúc nối): 3/10 (Trái: 2/3, Phải: 1/3). Kích thước sỏi trung bình: 19 mm (15-32). Trên phim UIV hoặc MSCT có tiêm cản quang: Thận ứ nước độ II: 4/10, Thận ứ nước độ III: 6/10, Chức năng thận tốt: 10/10. Thời gian mổ trung bình: 97,2 phút (70-150). Lượng máu mất trung bình: 23,8 mL (15-70). Đặt thông niệu quản lưu: 9/10, một trường hợp không đặt được thông niệu quản lưu vì nghẹt ở niệu quản sát bàng quang. Một trường hợp chuyển sang nội soi tiêu chuẩn với 3 trocart. Thời gian mang ống dẫn lưu: 3,77 ngày (2-6). Thời gian nằm viện sau mổ: 4,22 ngày (3-6). Không có biến chứng sau mổ. Một trường hợp ống dẫn lưu ra dịch đến ngày hậu phẫu 6. Đau sau mổ ít: 7/9, đau sau mổ trung bình 2/9.

Kết luận: Nội soi một vết mổ sau phúc mạc vùng hông lưng lấy sỏi niệu quản và sỏi bể thận bước đầu cho kết quả đáng khích lệ với biến chứng bằng không. Việc chỉ có một trường hợp chuyển qua nội soi tiêu chuẩn cho thấy tính khả thi cao của kỹ thuật này. So với nội soi sau phúc mạc tiêu chuẩn, kỹ thuật này có kết quả tương đương nhưng có kết quả thẩm mỹ cao hơn vì chỉ có một vết rạch da.

Từ khóa: Nội soi ổ bụng một vết mổ, nội soi sau phúc mạc, mở niệu quản lấy sỏi, mở bể thận lấy sỏi.


ABSTRACT :

Objective: To report and to assess the feasibility, the safety of the Retroperitoneal Laparoendoscopic single-site ureterolithotomy and pyelolithotomy initially performed at Binh Dan hospital.

Materials and methods: We report 10 cases of retroperitoneal laparoendoscopic single-site ureterolithotomy and pyelolithotomy performed at the Department of Urology of Binh Dan hospital fro May 2014 to April 2015. The patient was placed at the lateral nephrolithotomy position. Skin incision of 1.5 cm at the tip or right below the tip of the 12th rib in the posterior axilliary line, and a minilumbotomy performed. The working space was created using digital and balloon dissection, outside the Gerota’s fascia. The multichannel port X-cone® (Storz) was inserted to this miniscule lumbotomy. Retroperitoneal insufflation of CO2 gaz at 12 mmHg. Retroperitoneal laparoscopy performed using a long 5 mm laparoscope. The standard (straight) instruments were used to incise the Gerota’s fascia and to dissect the proximal ureter up to the renal pelvis at the stone site. Incision of ureter using the electrical hook, stone leverage, placement of a ureteral stent, and ureteral closure using a running suture. Removal of port X-cone®, stone retrieval, placement of a drain through the minilumbotomy, and closure of the latter. Assess the operative outcomes and intraoperative and postoperative data collected.

Results: There were 8 male and 2 female patients. Ten patients having 11 stones with one patient having 2 stones. Mean age: 42.9 (range 25-55). Preoperative ASA: ASA I: 2/10, ASA II: 8/10. Ureterolithotomy: 7/10 (Left side: 5/7, Right side:2/7), Pyelolithotomy 3/10 (Left side: 2/3, Right side: 1/3). Mean stone size: 19mm (range 15-32). On preop. IVP/MSCT: Moderate hydronephrosis: 4/10, Severe hydronephrosis: 6/10, Good renal function: 10/10. Mean operative time: 97.2 minutes (range 70-150). Mean estimated blood loss: 23.8 mL (range 15-70). Ureteral stenting : 9/10 cases, in one case placement of ureteral stent was impossible due to mild distal ureteric stricture. One conversion to standard laparoscopy. Drain removal at 3.77 days postop. (range 2-6). Postoperative hospital stay: 4.22 days (range 3-6). There were no postoperative complications. One case with urine leakage through the drain until day 6 postop. Mild postoperative pain: 7/9, moderate postoperative pain: 2/9.

Conclusion: Retroperitoneal LaparoEndoscopic Single-site ureterolithotomy and pyelolithotomy in our centre had initial encouraging outcomes without any complications. The only one conversion to standard laparoscopy revealed the high feasibility of this technique. Compared to standard laparoscopy, this technique has similar outcomes but with better cosmetic outcomes due to the only one skin incision.

Keywords: Laparoendoscopic Single-Site Surgery - LESS, Retroperitoneal Laparoscopy, Ureterolithotomy, Pyelolithotomy.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF