Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2016 - Tập 20 - Số 2
PHÂN TÍCH CHI PHÍ – HIỆU QUẢ CỦA ERLOTINIB SO VỚI GEMCITABINE/CARBOPLATIN TRONG ĐIỀU TRỊ BƯỚC 1 UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ CÓ ĐỘT BIẾN EGFR GIAI ĐOẠN TIẾN XA TẠI VIỆT NAM TỪ GÓC NHÌN CƠ QUAN BẢO HIỂM Y TẾ

Hoàng Bích Thủy*, Ngô Thảo Nguyên*, Nguyễn Thị Thu Thủy*

TÓM TẮT :

Mở đầu: Ung thư phổi là ung thư phổ biến nhất và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các bệnh lý ung thư trên thế giới, trong đó ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) chiếm tỷ lệ 80-85% (5). Để nâng cao hiệu quả điều trị bệnh, ngày nay nhiều liệu pháp điều trị mới đã ra đời, trong đó có thể kể đến liệu pháp trúng đích, với thuốc điển hình là erlotinib. Với hiệu quả và độ an toàn đã được chứng minh qua các thử nghiệm lâm sàng, erlotinib đã được FDA chấp thuận trong điều trị bước 1 UTPKTBN có đột biến EGFR dương tính. Tuy nhiên, giá thành cao của erlotinib là rào cản rất lớn khi chỉ định thuốc trên thực tế lâm sàng, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam.

Mục tiêu cụ thể: Xây dựng mô hình phân tích chi phí – hiệu quả của erlotinib so với phác đồ hóa trị hiện tại (gemcitabin/ carboplatin-GC). Phân tích chi phí-hiệu quả của erlotinib trong điều trị bước 1 UTPKTBN có đột biến EGFR dựa trên quan điểm của cơ quan BHYT.

Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu: Đối tượng: hiệu quả kinh tế của phác đồ erlotinib so với phác đồ hóa trị GC. Phương pháp: Mô hình hóa bằng mô hình Markov và phân tích chi phí – hiệu quả. Đề tài tiến hành phân tích dựa trên quan điểm của cơ quan BHYT vì vậy chỉ đánh giá chi phí trực tiếp y tế bao gồm chi phí thuốc và chi phí dịch vụ y tế. Dữ liệu về hiệu quả, tần số chuyển đổi được trích dẫn từ thử nghiệm lâm sàng OPTIMAL-CTONG 0802, chi phí thuốc được tính toán dựa trên bảng giá thuốc kê khai và kê khai lại của cục Quản lý Dược và bảng giá DVYT của sở Y tế TPHCM năm 2015.

Kết quả: Tính trên toàn thời gian sống của bệnh nhân, phác đồ erlotinib có chi phí điều trị cao hơn so với phác đồ GC 601 triệu (884 triệu so với 283 triệu, tương ứng) đồng thời làm gia tăng 0,75 QALY (số năm sống có chất lượng). Chỉ số gia tăng chi phí-hiệu quả của phác đồ erlotinib so với phác đồ hóa trị GC là 801.345.992 VNĐ/QALY cao gấp 2,5 lần ngưỡng chi trả của Việt Nam. Như vậy, từ quan điểm của cơ quan BHYT erlotinib có hiệu quả về mặt kinh tế có điều kiện trong điều trị bước 1 UTPKTBN giai đọan di căn có đột biến EGFR.

Kết luận : Erlotinib có hiệu quả về mặt kinh tế có điều kiện so với phác đồ GC trong điều trị bước 1 UTPKTBN giai đọan di căn có đột biến EGFR. Đây là cơ sở cho các cơ quan quản lý y tế và các nhà cung ứng đưa ra các quyết định phù hợp trong việc hỗ trợ giá thuốc ở các nhóm đối tượng bệnh nhân nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của erlotinib trong điều trị UTPKTBN giai đoạn tiến xa.

Từ khóa: Erlotinib, UTPKTBN, chi phí, hiệu quả, đột biến EGFR

ABSTRACT :

Background: Lung cancer is the most common type of cancer over the world, from which 80-85% is non-small cell lung cancer (NSCLC). Erlotinib, a representative of targeted therapy, has been approved by FDA for first-line therapy in EGFR-mutations positive NSCLC based on its proved high effectiveness and safety by many clinical trials. However, the high price of drug has been creating a large barrier in using this drug in practice.

Objectives: Evaluate the cost - effectiveness of erlotinib versus current chemotherapy (gemcitabine/carboplatin - GC) in first-line therapy of EGFR - mutations positive NSCLC from Vietnamese healthcare payers’ perspective.

Methods: A three-state Markov model has been constructed to predict expected costs and outcomes for each regimen. Only medical direct cost including cost for drug and medical services has been evaluated due to the healthcare payers’ perspective of research. Data of effectiveness has been retrieved from the clinical trial OPTIMAL – CTONG 0802, data of treatment cost has been estimated based on the treatment guideline of Ministry of Health of Vietnam. One-way deterministic sensitivity analysis has been conducted to evaluate the sensitivity of model.

Results: It has been shown that within life-time horizon, erlotinib regimen required approximately 601 million VNĐ more than the GC regimen (884 million VNĐ vs 283 million VNĐ, respectively) with 0.75 QALY gained (1.51 vs 0.76; respectively). The incremental cost effectiveness ratio (ICER) was accounted for 801.3 million VNĐ per QALY gained, which is as high as 2.5 times of willingness-to-pay of Viet Nam. That means erlotinib was limited cost-effective compared with GC regimen in first-line therapy of advanced EGFR-mutations positive NSCLC from healthcare payers’ perspective.

Conclusions: Erlotinib was limited cost-effective compared with GC in first-line therapy of advanced EGFR-mutations positive NSCLC. The result revealed the necessity of supports from suppliers or heath insurance agencies to enhance economic effectiveness of erlotinib in advanced NSCLC treatment.

Key words: Erlotinib, NSCLC, Cost-effectiveness, EGFR-mutations positive

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF