Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2016 - Tập 20 - Số 2
TÌNH TRẠNG KHÁNG THUỐC IN VITRO CỦA STAPHYLOCOCCUS AUREUS VÀ STREPTOCOCCUS PYOGENES GÂY BỆNH CHỐC Ở TRẺ EM ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TP. HỒ CHÍ MINH

Trần Nguyên Ánh Tú *, Văn Thế Trung**

TÓM TẮT :

Mở đầu: Chốc là bệnh nhiễm trùng da nông thường gặp ở trẻ em, có tính lây nhiễm cao, rất dễ thành dịch bệnh. Trước đây, điều trị chốc chủ yếu bôi kháng sinh tại chỗ, và chỉ dùng kháng sinh uống trong trường hợp bệnh lan rộng. Tuy nhiên, theo nhiều nghiên cứu gần đây tỉ lệ S.aureusS.pyogenes kháng với các thuốc bôi ngày càng cao. Năm 2012, Bolaji, R. S., và cộng sự thống kê vấn đề điều trị trên 3722 462 bệnh chốc tại Mỹ, thấy rằng điều trị bằng kháng sinh bôi có tỉ lệ thất bại cao hơn điều trị bằng kháng sinh uống.

Mục tiêu: Xác định đặc điểm lâm sàng và tình trạng kháng thuốc in vitro của các vi trùng gây bệnh chốc ở trẻ em đến khám tại bệnh viện Da Liễu TP. Hồ Chí Minh từ 09/2013 – 04/2014.

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hàng loạt ca.

Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân trẻ em bị bệnh chốc đến khám tại bệnh viện Da Liễu TP. Hồ Chí Minh được nuôi cấy và làm kháng sinh đồ.

Kết quả: 72 trường hợp trẻ em bị chốc có kết quả cấy vi trùng dương tính (92,31%). Trong số này, chốc không bóng nước là 48,6%, chốc bóng nước là 25% và chốc loét là 26,4%. Đa số vi trùng phân lập được là S.aureus (90,3%). Tỉ lệ S.aureus kháng với penicillin là 98,5% và erythromycin là 81,5%. Tỉ lệ chủng tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA) được phát hiện trong nghiên cứu là 13,8%. Đặc biệt, tỉ lệ nhiễm các chủng MRSA trên bệnh nhân chốc loét cao hơn 3 lần so với tỉ lệ nhiễm MRSA trên bệnh nhân không phải chốc loét (p<0,05). Và cả 2 ca cấy ra S.pyogenes (chiếm 2,8%) vẫn còn nhạy với penicillin.

Kết luận: Chốc không bóng nước là thể bệnh thường gặp nhất trên lâm sàng. Tác nhân gây bệnh chủ yếu là S.aureus, gần như kháng toàn bộ với penicillin, erythromycin, và vẫn còn nhạy cao với oxacillin, cefuroxime.

Từ khóa: chốc, kháng kháng sinh, S.aureus, S.pyogenes

ABSTRACT :

Background: Impetigo is a highly contagious skin infection that is most common in children. Previously, topical antibiotics were used as major treatment, and oral antibiotics were indicated only for serious cases. However, according to recent researches, topical antibiotic resistance of S.aureus and S.pyogenes has been increasing. In 2012, Bolaji, R. S. et al. had a analysis review of treatment over 3,722,462 cases of impetigo in the USA and found that oral antibiotics had more effective than topical antibiotics.

Objective: To demonstrate clinical features and antibiotic resistance of bacteria causing impetigo in child patients at HCMC Hospital of Dermato - Venereology from September 2013 to April 2014.

Methods: A case series study was designed. Clinical characteristics of patients with impetigo were recorded. Bacteria from impetigo pus were isolated. Antiobiogram examination with multiple antibiotics was performed.

Results: 72 (92.31%) children with impetigo had positive bacteriological cultures. Regarding clinical features, non-bullous impetigo was 48.6%, bullous impetigo was 25% and ecthyma was 26.4%. On the examination of biology features, S.aureus was 90.3% of cases. Penicillin-resistant S.aureus was 98.5% and erythromycin-resistant S.aureus was 81.5%. Methicillin-Resistant Staphylococcus aureus (MRSA) was 13.8%. Spectially, we found that MRSA had higher potential than Methicillin-Sensitive Staphylococcus aureus (MSSA) in causing ecthyma (RR=3, p<0.05). And 2 S.pyogenes cases (2.8%) remained susceptible to penicillin.

Conclusion: Non-bullous impetigo was the most common clinical feature. The main bacterium is S.aureus, which was almost completely resistant to penicillin and erythromycin. On the other han, it was still highly sensitive to oxacillin and cefuroxime.

Key words: Impetigo, antiobiotics resistance, S.aureus, S. pyogenes 

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF