Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2017 - Tập 21 - Số 1
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ HẸP ĐIỂM LỆ MẮC PHẢI BẰNG ỐNG LỆ QUẢN ĐÔI TỰ CỐ ĐỊNH

Chung Nữ Giang Thanh*, Lê Minh Thông*

TÓM TẮT :

Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị hẹp điểm lệ mắc phải bằng tạo hình điểm lệ 3 đường cắt phối hợp đặt ống lệ quản đôi tự cố định.

Phương pháp: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng không nhóm chứng. Bệnh nhân chảy nước mắt thỏa điều kiện hẹp điểm lệ độ I – độ II theo phân độ điểm lệ của Kashkouli và không có các bệnh lý bề mặt nhãn cầu, mi mắt, hẹp đường lệ trên hay hẹp đường lệ dưới đi kèm. Bệnh nhân được phẫu thuật tạo hình điểm lệ 3 đường cắt phối hợp đặt ống lệ quản đôi tự cố định với thời gian lưu ống là 3 tháng. Bệnh nhân được theo dõi kết quả ở thời điểm 1 tuần, 1 tháng, 3 tháng sau phẫu thuật và 1 tháng, 3 tháng sau rút ống.

Kết quả: Tỷ lệ thành công về giải phẫu học 89,6%, thành công hoàn toàn về mặt chức năng 86,21%, thành công một phần về mặt chức năng 6,90%, tỷ lệ hài lòng của bệnh nhân 89,66%. Các biến chứng cộm xốn và kích thích kết mạc nhiều khi đặt ống, giảm dần theo thời gian, hết khi rút ống; nhiễm trùng – u hạt kết mạc: ít gặp; tỷ lệ rớt ống 18,96%, phần lớn trong tháng đầu.

Kết luận: Tạo hình điểm lệ 3 đường cắt phối hợp ống lệ quản đôi tự cố định là một phương pháp điều trị hẹp điểm lệ hiệu quả với độ an toàn tương đối cao.

Từ khóa: ống lệ quản đôi tự cố định, tạo hình điểm lệ 3 đường cắt.

ABSTRACT :

Objective: To study the success rate of a self – retaining bicanaliculus intubation stent in the treatment of acquired punctal stenosis.


Methods: Prospective, noncomparative observational case series. Fifty - eight eyes of 32 patients who underwent rectangular 3-snip punctoplasty and stent implantation using disposable sizers, from January 2015 to July 2016, were studied. The severity of the stenosis was graded on clinical examination according to external lacrimal punctum grading of Kashkouli. In all patients, the superior and inferior puncti, with a 1 mm calibrated dilator supplied with the stent, was performed carefully to prevent damage to the ampulla; before the insertion of the stent, it was necessary to verify the absence of canalicular obstruction by probing and patency of the nasolacrimal duct by irrigation. An initial clinical examination indicated that tearing was not ocular in nature. For the treatment of acquired punctal stenosis, patients were evaluated retrospectively in terms of sex and age, the duration and severity of epiphora, associated blepharitis or trachoma, and the success of treatment. Stents were removed 3 months after insertion. A minimum follow-up of 6 months following punctoplasty was considered for analysis. Success was defined as resolution of symptoms.

Results: Fifty - eight eyes of 32 patients were studied. The mean age at presentation was 51 years. Ratio

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF