Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2016 - Tập 20 - Số 2
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT CẮT THÙY PHỔI QUA NỘI SOI LỒNG NGỰC TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI

Trần Minh Bảo Luân*, Lê Phi Long*, Lê Công Duy*, Đào Duy Phương*

TÓM TẮT :

Đặt vấn đề: Phẫu thuật nội soi lồng ngực với nhiều ưu điểm đã được chứng minh qua các phẫu thuật như: cắt phổi không điển hình bằng stapler trong nốt đơn độc phổi, cắt kén khí qua nội soi lồng ngực điều trị tràn khí màng phổi tự phát, cắt tuyến hung trong bệnh nhược cơ, cắt u trung thất… Gần đây, phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt thùy phổi trong điều trị ung thư phồi cũng cho thấy nhiều ưu điểm và đang được áp dụng rộng rãi tại các trung tâm lớn trên thế giới.

Phương pháp nghiên cứu: tiền cứu mô tả, không nhóm chứng.

Kết quả: 52 trường hợp phẫu thuật cắt thùy phổi qua nội soi lồng ngực được thực hiện tại BV Đại học Y Dược TP.HCM từ 01/2011 đến 01/2016, trong đó 18 trường hợp thùy trên phổi trái, 15 trường hợp thùy dưới phổi trái, 10 trường hợp thùy trên phổi phải, 8 trường hợp thùy dưới phổi phải và 1 trường hợp thùy giữa. Kích thước khối u trung bình 4,2 ± 0,5 (2,5 – 5cm), nằm ngoại vi và không xâm lấn các mạch máu vùng rốn phổi. Có 32 trường hợp kèm hạch: trung thất (14 trường hợp), rốn phổi (18 trường hợp). 4 trường hợp giai đoạn IA, 26 trường hợp giai đoạn IB, 16 trường hợp IIA, 6 trường hợp IIIA. Thời gian phẫu thuật trung bình 105 ± 38,5 (65 – 185 ph); Lượng máu mất: 150 ± 20 (100 – 180ml); Thời gian DLMP: 2,05 ± 0,5 (1 – 3 ngày); Thời gian nằm viện sau mổ: 4,5 ± 1,5 (4 – 7 ngày). Tai biến và biến chứng: 1 trường hợp chuyển sang mổ mở vì khó khăn về mặt kỹ thuật, 1 trường hợp xì khí kéo dài đòi hỏi nội soi lồng ngực lại và 1 trường hợp tràn khí – dịch màng phổi sau phẫu thuật 3 tuần và chỉ cần điều trị bằng chọc hút khí - dịch màng phổi. Không trường hợp nào rách ĐM hay TM phổi gây chảy máu lượng lớn đòi hỏi phải mở ngực khẩn cấp, không ghi nhận các tai biến và biến chứng khác như: chảy máu sau mổ, viêm phổi, xẹp phổi, nhiễm trùng vết mổ… Thuốc giảm đau sau mổ: tất cả 52 trường hợp của chúng tôi chỉ cần dùng NSAID dạng chích kèm Paracetamol truyền tĩnh mạch trong 2 ngày đầu sau mổ và chuyển sang Acetaminophen uống trong 3 ngày tiếp theo.

Kết luận: Phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt thùy phổi cho thấy nhiều ưu điểm: vết mổ nhỏ, thẫm mỹ cao, không banh kéo xương sườn nên ít đau sau mổ, thời gian phục hồi và nằm viện ngắn… Hiện nay, kỹ thuật này đang được áp dụng rộng rãi và tính khả thi về mặt kỹ thuật, hiệu quả trong điều trị ung thư cũng đã được nhiều tác giả cố gắng chứng minh qua nhiều nghiên cứu.

Từ khóa: Cắt thùy phổi qua nội soi lồng ngực.

ABSTRACT :

Background: Video-Assisted Thoracic Surgery (VATS) with many proven advantages such as wedresection by using stapler in treatment of solitary lung nodule, bullectomy in treatment of primary spontaneous pneumothrorax, thymectomy in treatment of myasthenia gravis, mediastinal tumors… More recently, VATS lobectomy in the treatment of lung cancer also shows many advantages and is widely used in many major centers in the world.

Method: prospective description, no control group.

Results: 52 cases of VATS lobectomy were performed at University Medical Center of Ho Chi Minh city from 01/2011 to 09/2016, including 18 cases of left upper lobe, 10 cases of left lower lobe, 15 cases of right upper lobe, 8 cases of right lower lobe and 1 case of middle lobe. The average tumor size 4,2 ± 0.5 (2.5 - 5 cm), are located at peripheral lung tissue and noninvasive pulmonary blood vessels. There are 32 cases with lymph nodes: mediastinum lympho nodes (14 cases), lung hilum lympho nodes (18 cases). 4 cases of lung cancer stage IA, 26 cases of stage IB, 16 cases of stage IIA and 6 cases of IIIA. The mean durations of operative time 105 ± 38.5 (65-185 min), intraoperative blood loss: 150 ± 20 (100 - 180ml), the mean durations of chest drainage: 2.05 ± 0.5 (1-3 days); the mean postoperative hospitalization: 4.5 ± 1.5 (4-7 days). Complications: a case switch to open surgery because of technical difficulties, one case of long airleak needed to redo VATS and a case of pneumothorax - pleural effusion happened at 3 weeks after surgery and just treated with simply aspiration. No case of massive bleeding due to laceration of pulmonary artery or pulmonary vein requiring emergency thoracotomy, no other complications such as postoperative bleeding, pneumonia, atelectasis, wound infection... Postoperative analgesics: only injectable NSAID combine Paracetamol I.V was used within 2 days after surgery and switched to acetaminophen in the next 3 days in all of our cases.

Conclusion: VATS lobectomy was proved as a procedure with many advantages such as small incisions, highly cosmetic, less postoperative pain due to no rib retractor, shorter recovery time and hospital stay... Curently, VATS lobectomy technique is widely applied and technically feasibilities, effective in treatment of lung cancer have also been proved by many authors through many studies.

Key word: VATS lobectomy.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF