Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2017 - Tập 21 - Số 1
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT BIẾN DẠNG QUAY SẤP CẲNG TAY VÀ CO RÚT GẤP CỔ TAY – BÀN TAY Ở TRẺ BẠI NÃO

Phan Đức Minh Mẫn*, Ngô Anh Tuấn**

TÓM TẮT :

Đặt vấn đề: Bại não là biểu hiện các biến dạng cơ xương khớp do tổn thương không tiến triển của hệ thống thần kinh trung ương thường xảy ra trong thời điểm chu sinh ở não. Ở trẻ em bị bại não, tư thế cổ tay cũng như vận động cổ tay chiếm vai trò quan trọng trong một số hoạt động đơn giản như tập di chuyển, giúp thực hiện một số động tác trong sinh hoạt và một số động tác phức tạp hơn được dễ dàng hơn. Chúng tôi ghi nhận các biến dạng ở chi trên bệnh nhân bại não thường gặp là biến dạng co rút gập cổ tay – ngón tay, sấp cẳng tay, khép ngón cái và các biến dạng này có thể được cải thiện phần nào thông qua các liệu trình điều trị vật lý trị liệu và điều trị phẫu thuật. Tuy nhiên, việc điều trị chưa có sự kết hợp hệ thống giữa phẫu thuật, vật lý phục hồi, các cơ sở sản xuất các phương tiện hỗ trợ cho bệnh nhân bại não sau phẫu thuật.

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả điều trị phối hợp phục hồi chức năng sau mổ trong điều trị biến dạng quay sấp cẳng tay và co rút gấp cổ tay – bàn tay ở trẻ bại não.

Phương pháp nghiên cứu: Đây là phương pháp nghiên cứu tiến cứu, mô tả loạt ca không đối chứng với cỡ mẫu là 50 bệnh nhân. Đối tượng được chọn vào nghiên cứu là các trường hợp bệnh nhân bị bại não có di chứng biến dạng quay sấp cẳng tay và di chứng co rút gấp cổ tay – bàn tay tại khoa Phẫu Thuật Chỉnh Hình – Bệnh viện Chỉnh Hình và Phục Hồi Chức Năng Thành Phố Hồ Chí Minh từ năm 2011 đến 2013.

Kết quả nghiên cứu: Sau phẫu thuật, kết quả trung bình sau một năm ở 50 bệnh nhân có 2 trường hợp (4%) vẫn còn biến dạng gấp cổ tay, bàn tay như cũ. 4%(2 bệnh nhân) không cải thiện chức năng bàn tay. Chức năng bàn tay sau phẫu thuật tăng từ mức 3,13 lên 5,38 (tăng thêm 2,25). Số bệnh nhân còn biến dạng quay sấp cẳng tay chiếm 69,6%. Tuy nhiên không còn bệnh nhân biến dạng quay sấp nặng, số bệnh nhân hầu hết tập trung vào loại tốt và khá là 32 bệnh nhân (69,6%), loại trung bình là 10 bệnh nhân (21,7%).

Kết luận: Phương pháp phẫu thuật biến dạng quay sấp cẳng tay và co rút gấp cổ tay-bàn tay ở trẻ bại não là phương pháp dễ thực hiện. Kéo dài được khối cơ từ những đơn vị sợi cơ mà ít gây ảnh hưởng đến phần khác với phẫu thuật cắt bao cân mạc cơ. Phương và hướng của lực kéo khi hoạt động hầu như không có sự thay đổi so với tự nhiên đối với phẫu thuật chuyển gân duỗi cổ tay trụ sang duỗi cổ tay quay. Việc giải phóng điểm bám gân sấp tròn trong biến dạng quay sấp cẳng tay tạo điều kiện cho sự cân bằng cho nhóm cơ sấp và ngửa.

Từ khóa: biến dạng quay sấp cẳng tay, co rút gấp cổ tay – bàn tay, trẻ bại não.

ABSTRACT :

Introduction: Cerebral palsy is the musculoskeletal manifestation of a nonprogressive central nervous system lesion that usually occurs due to a perinatal insult to the brain. In children with cerebral palsy, wrist posture and movement play an important role in some simple activities such as practicing movement, help doing

some routine activities and partially doing a few complex activities more easier. We noted that the retraction of wrist-hand fold, forearm pronation, and the thumb closing are the common of the upper limbs deformities in cerebral palsy patients. These deformities can be partially improved by physiotherapist and surgeon. However, the treatment does not have the harmonious combination among surgeon, and rehabilitation.

Objectives: To evaluate the results of surgical treatment for pronating deformities of the forearm and retrack deformities of wrist and hand in children with cerebral palsy.

Methods: The prospective study was carried out in 50 cerebral palsy patients who have forearm pronation deformity and the retraction of wrist-hand fold of Orthopedics and Rehabilitation hospital Ho Chi Minh city from 2011 to 2013.

Results: The average result of 50 patients after one year was2 cases (4%) of unchanged wrist deformity. Four percents (2 patients) do not improve hand function. Hand function after surgery increased from 3.13 to 5.38 (added 2.25). Sixty nine point six percent mild forearm pronation deformity. However, no severe deformity was found, and 32 patients (69.6%) and 10 patients (21.7%) were in good and moderate points, respectively.

Conclusion: Surgical treatment for forearm pronation deformity and the retraction of wrist-hand fold in children with cerebral palsy are not so demanded. Stretching muscular bundles from muscular units affect minimally other parts less than fasciotomy. Biomechanics seems to unchange when extensor carpi ulnar is transferred to extensor carpi radialis. This is very important for choosing tendon transfer. The releasing of pronator teres insertion facilitates the balance between pronator and supinator groups.

Keywords: forearm pronation deformity, the retraction of wrist-hand fold, children with cerebral palsy.


Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF