Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2016 - Tập 20 - Số 3
SO SÁNH HIỆU QUẢ GÂY TÊ NGOÀI MÀNG CỨNG BỆNH NHÂN TỰ ĐIỀU KHIỂN BẰNG ROPIVACAINE VỚI BUPIVACAINE ĐỂ GIẢM ĐAU SAU PHẪU THUẬT THAY KHỚP HÁNG VÀ GỐI

Phạm Tường Linh*, Nguyễn Ngọc Anh**

TÓM TẮT :

Đặt vấn đề: Ropivacaine là loại thuốc tê mới, so với bupivacaine thì ít độc hại hơn, cho thấy cảm giác và phong bế vận động có sự phân biệt lớn. Chúng tôi đưa ra giả thuyết rằng điều trị đau sau mổ với phác đồ kết hợp truyền ngoài màng cứng liên tục và bệnh nhân tự điều khiển (PCEA) sử dụng ropivacaine có thể cho kết quả tốt hơn so với bupivacaine.

Phương pháp nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng có nhóm chứng, không mù. Bệnh nhân thay khớp háng và khớp gối với ASA I, II, III, từ 10/2014 đến 7/2015 chia làm hai nhóm. Họ được gây tê ngoài màng cứng để giảm đau sau mổ sử dụng ropivacaine 2mg/ml hoặc bupivacaine 1,25 mg/ml. Cả hai loại thuốc tê được truyền với tốc độ 6 ml/giờ, bệnh nhân tự bấm khi đau 2ml, thời gian khóa 20 phút, Theo dõi mức độ đau lúc nghỉ và lúc vận động sau mổ, tổng liều thuốc tê, mức độ phong bế vận động, tỷ lệ tác dụng phụ trong khoảng thời gian 48 giờ đầu tiên sau phẫu thuật.

Kết quả: Có 38 bệnh nhân tham gia nghiên cứu. Kết quả ropivacaine và bupivacaine có tác dụng giảm đau tốt tương đương nhau, trong khi đó mức độ phong bế vận động nhiều hơn đối với nhóm điều trị bằng bupivacaine.

Kết luận: Mặc dù có tác dụng giảm đau tương tự, truyền ngoài màng cứng của ropivacain kết hợp với PCEA cung cấp sự hài lòng của bệnh nhân cao hơn so với liều lượng bằng nhau của bupivacain do ít phong bế vận động hơn. Các tác dụng phụ như buồn nôn, nôn mửa, lạnh run và bí tiểu rất hiếm ở cả hai nhóm.

Từ khóa: giảm đau ngoài màng cứng; bệnh nhân tự kiểm soát đau; ropivacain; buvivacain; thay háng và khớp gối; đau sau phẫu thuật.

ABSTRACT :

Background: Ropivacaine is a new local anaesthetic, which compared to bupivacaine is less toxic and shows greater sensory and motor block dissociation. We hypothesized that treatment of postoperative pain with a combined regimen of continuous epidural infusion and Patient-Controlled Epidural Analgesia (PCEA) using ropivacaine could have given better results compared with those we had obtained using bupivacaine.

Methods: Control trial, unblind. Patients undergoing hip and knee replacement with ASA I, II, III from 10/2014 to 7/2015 were assigned to two groups,. They received epidural analgesia for postoperative pain treatment using ropivacaine 2 mg/ml or b upivacaine 1.25 mg/ml. Both drugs were administered as a constant infusion of 6 ml/h supplemented by PCEA bolus doses of 2 ml, lockout time 20 minutes. Pain scores were recorded via visual analogue scale at rest and coughing after surgery, the total amount of anesthetic, intensity of motor block, side effets rate consumption at regular intervals during the first 48 h after surgery.

Results: Thirty-eight patients were evaluated. Ropivacaine and bupivacaine, in similar amounts, provided similar results assessed as adequate to very good postoperative analgesia, whereas motor block was significantly more intense in patients treated with bupivacaine.

 Conclusions: Despite similar analgesic effects, epidural infusion of ropivacaine combined with PCEA provides higher patient satisfaction than equal doses of bupivacaine due to lack of motor block. Side effects such as nausea, vomiting, frozen and retention of urine were rare in both groups.

Key words: Epidural analgesia; patient-controlled analgesia; ropivacaine; bupivacaine; hip and knee replacement; postoperative pain.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF