Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2016 - Tập 20 - Số 4
HIỆU QUẢ CỦA PHƯƠNG PHÁP NỘI SOI NIỆU QUẢN ĐẶT THÔNG JJ TRONG ĐIỀU TRỊ THẬN Ứ NƯỚC NHIỄM TRÙNG – NHIỄM KHUẨN HUYẾT TỪ ĐƯỜNG NIỆU CÓ TẮC NGHẼN

Nguyễn Ngọc Châu*, Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng*, Trần Vĩnh Hưng**

TÓM TẮT :

Đặt vấn đề: Thận ứ nước nhiễm trùng (infected hydronephrosis) kèm tắc nghẽn đường tiết niệu trên là một cấp cứu khẩn cấp trong Tiết niệu. Việc giải quyết tắc nghẽn, giải áp thận khẩn cấp là biện pháp chủ yếu, là chìa khóa của chiến lược điều trị tình trạng bệnh lý này. Hiện tại, phương pháp tối ưu cho việc giải áp thận: dẫn lưu thận ra da hay nội soi ngược chiều đặt thông niệu quản vẫn còn bàn cãi.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu và tiến cứu hàng loạt trường hợp tại bệnh viện Bình Dân, từ tháng 6/2015 đến tháng 03/2016, với 163 bệnh nhân đến khám và điều trị nội trú tại khoa Nội Soi Niệu vì thận ứ nước nhiễm trùng trên tắc nghẽn niệu quản. Bệnh nhân được điều trị bằng kháng sinh điều trị theo kinh nghiệm và nội soi niệu quản đặt thông JJ ngược chiều cấp cứu dưới hướng dẫn C-arm. Tiến hành thu thập số liệu với bệnh án nghiên cứu với trên 30 biến số.

Kết quả: Chúng tôi ghi nhận 163 trường hợp, trong đó có 134 trường hợp thận ứ nước nhiễm trùng (82,3%), 24 trường hợp nhiễm khuẩn huyết (14,7%), 5 trường hợp sốc nhiễm khuẩn (3%) từ đường niệu trên có tắc nghẽn do sạn niệu quản hoặc do hẹp niệu quản. Có 10 trường hợp thận ứ mủ được xác định trong khi đặt thông JJ thấy nước tiểu có mủ. Có 95% các trường hợp bệnh nhân có triệu chứng đau hông lưng và sốt. Có 149 trường hợp tắc nghẽn do sỏi niệu quản, 14 trường hợp do hẹp niệu quản. Thời gian nằm viện từ 7-20 ngày. Thời gian nằm tại Khoa Săn sóc đặc biệt có liên quan với mức độ nặng của nhiễm khuẩn tại thời điểm can thiệp. Cấy nước tiểu dương tính trong 121 trường hợp (74,2%). Không có bệnh nhân tử vong trong quá trình can thiệp cũng như không có trường hợp nào diễn tiến nặng hơn sau can thiệp. Đây là kết quả mà chúng tôi cho là quan trọng nhất, có thể làm thay đổi những quan điểm về kỹ thuật chuyển lưu nước tiểu nhiễm khuẩn cổ điển.

Kết luận: Nội soi niệu quản đặt thông JJ trong điều trị thận ứ nước nhiễm trùng, nhiễm khuẩn huyết có tắc nghẽn cho kết quả tốt, an toàn, khả thi và kết quả điều trị càng khả quan hơn khi bệnh nhân được dùng kháng sinh kinh nghiệm đúng cách và được can thiệp sớm, trước giai đoạn sốc nhiễm khuẩn.

Từ khóa: Thận ứ nước nhiễm trùng, nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm khuẩn.

ABSTRACT :

Background: Infected hydronephrosis with obstruction is an absolute urological emergency. Urgent decompression of the collecting system is the key of strategy in management of this disease. Currently, the optimal approach for renal decompression remains controversial: percutaneous nephrostomy or retrograde ureteral stenting.

Materials and methods: A case-series study was conducted on 163 patients who were admitted and underwent ureteroscopic stent placement for infected hydronephrosis, urosepsis associated with obstruction at Binh Dan hospital from June-2015 to March-2016. All patients were managed by empirical antibiotherapy and urgent ureterocopic stent placement under C-arm guidance. Data were collected and analyzed.

Results: There were 163 patients in which 134 (82.3%) presented with infected hydronephrosis, 24 patients (14.7%) with urosepsis, and 5 patients (3%) with urological septic shock associated with obstruction due to ureteral stones or ureteric strictures. Ten patients had pyonephrois detected upon retrograde ureteroscopy. Flank pain and fever accounted for 95% of cases. 149 patients presented with ureteral stones, 14 patients with ureteral strictures. The length of hospital stay was 7-20 days. The number of days in ICU was related to the severity of infection at intervention. There were 121 patients with urine culture positive (74.2%), we did not perform blood culture examination for all patients. There were neither postoperative exacerbations of the infectious conditions nor postoperative deaths, which outlines the most important point of this study. This could lead to the changing of the traditional concept of techmique of urinary derivation for this setting.

Conclusions: Ureteroscopic JJ stent placement for infected hydronephrosis, urosepsis associated with obstruction is safe, feasible and had good outcome. The outcome is more encouraging when appropriate empirical antibiotherapy and early ureteral stenting are initiated, before the occurrence of septic shock.

Key words: Infected hydronephrosis, Urosepsis, Septic shock

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF