Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2017 - Tập 21 - Số 1
TỶ LỆ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KỲ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN AN BÌNH

Võ Thị Ánh Nhàn*, Huỳnh Nguyễn Khánh Trang**

TÓM TẮT :

Đái tháo đường thai kỳ là một rối loạn chuyển hóa có xu hướng ngày càng nhiều tại Việt Nam.Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) có liên quan đến việc gia tăng bệnh suất và tử suất ở cả thai phụ và thai nhi trong và sau sanh. Chẩn đoán sớm giúp có can thiệp hiệu quả.

Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 360 sản phụ đơn thai từ 24 - 28 tuần đến khám thai tại bệnh viện An Bình, thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ tháng 7/2015 đến tháng 3/2016. Tất cả sản phụ có làm xét nghiệm dung nạp 75 gam glucose – 2 giờ theo tiêu chí chẩn đoán của Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ năm 2015.

Kết quả: Tỷ lệ hiện mắc ĐTĐTK của thai phụ là 8,9%; KTC 95% (5,9 - 11,8). Tỷ lệ ĐTĐTK ở nhóm có ≥ 1 yếu tố liên quan cao hơn gấp 2 lần nhóm không có yếu tố liên quan (12,36% so với 5,49%). Tỷ lệ ĐTĐTK gia tăng theo số lượng yếu tố liên quan. 3. Các yếu tố độc lập liên quan với ĐTĐTK , có ý nghĩa thống kê là: (1) Cao huyết áp trước khi mang thai làm tăng tỷ lệ ĐTĐTK lên gấp 4,1 lần, với PR = 4,1; KTC 95% (1,8 – 9,9); p = 0,001; (2) Tiền căn ĐTĐTK trong lần sanh trước làm tăng tỷ lệ ĐTĐTK lên gấp 5,4 lần, với PR = 5,4; KTC 95%(2,5 – 11,8), p < 0,001; (3) Tiền căn gia đình thế hệ thứ nhất có đái tháo đường làm tăng tỷ lệ ĐTĐTK lên gấp 2,6 lần, với PR = 2,8; KTC 95%(1,5 – 5,5), p = 0,002.

Kết luận: ĐTĐTK cần được quan tâm nhiều hơn để có thể phát hiện sớm, từ đó có kế hoạch quản lý để giảm nguy cơ cho thai phụ và thai nhi

Từ khóa: đái tháo đường thai kỳ, nghiên cứu cắt ngang, thử nghiệm dung nạp glucose đường uống

ABSTRACT :

 Gestational diabetes mellitus (GDM) is a metabolic disorder tending more and more in Vietnam. GDM have related to increased morbidity and mortality in both mothers and fetus during pregnancy and after birth. Early diagnosis helps with effective interventions.

Methods: cross-sectional study on 360 women with singleton pregnancies of 24-28 weeks in An Binh hospital, Ho Chi Minh City in the period from July 2015 to March 2016. All pregnant women have tested 75 grams of glucose intolerance - 2 hours according to diagnostic criteria of the American Diabetes Association, 2015.


Results: The prevalence of GDM is 8.9% with 95% CI (5.9 to 11.8). The GDM rate in those women having at least 1 factor relating to GDM is 2 times higher than those without relevant factors (12.36% versus 5.49%). The rate increases with the number of GDM related factors. 3. The independent factors associated statistically significantly with GDM include: (1) High blood pressure before pregnancy increases 4.1 times the rate of GDM, with PR = 4.1; 95% CI (1.8 to 9.9); p = 0.001; (2) History of GDM increases 5.4 times the rate of GDM, with PR

= 5.4; 95% CI (2.5 to 11.8), p <0.001; (3) Family history with first - generation family members having diabetes increases 2.6 times the GDM rate, with PR = 2.8; 95% CI (1.5 to 5.5), p = 0.002.

Conclusion: GDM should be paid more attention to early detection, from which management plans to reduce the risks of the mothers and fetus

Keywords: gestational diabetes, cross-sectional study, oral glucose tolerance test

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF