Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2017 - Tập 21 - Số 1
TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA TRẺ SƠ SINH BỆNH TIM BẨM SINH CÓ CAN THIỆP NGOẠI KHOA TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2

Vũ Thị Hiệu*, Bùi Quang Vinh**, Huỳnh Thị Duy Hương**

TÓM TẮT :

Mở đầu: Trẻ bệnh tim bẩm sinh dễ bị suy dinh dưỡng trước khi điều trị can thiệp, nhưng tình trạng suy dinh dưỡng ở nhóm bệnh tuổi sơ sinh chưa được báo cáo.

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ suy dinh dưỡng qua đánh giá các chỉ số nhân trắc và trung bình thu nhập năng lượng của trẻ sơ sinh bệnh tim bẩm sinh có can thiệp ngoại khoa tại bệnh viện Nhi Đồng 2.

Phương pháp: Tiền cứu mô tả hàng loạt trường hợp, thời gian 1/11/2015-30/4/2016 tại khoa sơ sinh bệnh viện Nhi Đồng 2. Đối tượng là trẻ <1 tháng tuổi, nhập khoa sơ sinh nhận can thiệp ngoại khoa tạm thời và triệt để. Biến số nhân trắc dựa vào cân (kg), chiều dài (cm), và chuẩn hóa theo tuổi (Z-score) dựa vào phần mềm Anthro được đo lúc nhập khoa và xuất viện. Biến số thu nhập năng lượng (kcal/kg/ng) được tính toán lúc đạt tối đa trong thời gian điều trị tại bệnh viện.

Kết quả: Tổng cộng 39 trẻ sơ sinh bệnh tim bẩm sinh được can thiệp ngoại khoa ghi nhận 97.5% trẻ đủ tháng, cân nặng lúc sinh trung bình 3035 g, và 38.5% được chẩn đoán trước sinh với siêu âm. Các tật tim bẩm sinh tím tỉ lệ cao (89.7%), thường gặp chuyển vị đại động mạch (28.7%), không lỗ van ĐM phổi (25.6%), hẹp eo ĐMC (20.5%). Can thiệp ngoại khoa đa số tạm thời như đặt stent PDA (66.7%), Rashkind xé vách liên nhĩ (35.9%); chỉ 4 (10.2%) trẻ được phẫu thuật triệt để. Tỉ lệ suy dinh dưỡng tại thời điểm nhập viện là 7.7% nhẹ cân, 17.9% teo, và 5.1% thấp còi. Nuôi dưỡng đường miệng 97.4%, gavage dạ dày 69.2 %, trung bình năng lượng nhập lúc tối đa 102.6 kcal/kg/ngày. Thời điểm can thiệp tạm thời hoặc phẫu thuật trung vị 3 ngày tuổi, xuất viện 23 ngày tuổi. Tốc độ tăng cân trung bình 18.4 g/ngày, trước can thiệp 23g/ ngày, sau can thiệp 17g/ ngày. Tỷ lệ suy dinh dưỡng lúc xuất viện là 20.5% nhẹ cân, 15.4% teo, và 15.4 % thấp còi.

Kết luận: Tỉ lệ suy dinh dưỡng của trẻ bệnh tim bẩm sinh trong giai đoạn sơ sinh cao trước khi can thiệp ngoại khoa và cả lúc xuất viện. Năng lượng nhập thấp hơn so với khuyến cáo cho bệnh tim bẩm sinh.

Từ khóa: Suy dinh dưỡng, trẻ sơ sinh, bệnh tim bẩm sinh, can thiệp ngoại khoa, năng lượng nhập, chỉ số nhân trắc.

ABSTRACT :

Introduction: Children with congenital heart diseases are vulnerable to suffer malnutrition before intervention, but there was little data about the nutritional status in neonates with congenital heart diseases.


Objectives: To evaluate the proportion of malnutrition based on the anthropometric indices and the mean caloric intake in neonates with congenital heart diseases undergoing corrective intervention at Neonatal department, Children Hospital No 2.

Methods: A prospective case series, all neonates < 1month with congenital heart diseases under going palliative and complete corrective intervention admitted from November 1st 2015 to April 30th 2016 at Neonatal department, Children Hospital No2 were included. All patients underwent an anthropometric evaluation at presentation and at discharge: weight (kg), height (cm), head circumference (cm), Z-scores for weight for age, height for age, head circumference for age and weight for height calculated by WHO Anthro software. The caloric intake was calculated at time which the neonates were fed with maximum enteral fluid intake.

Results: A total 39 neonates with CHD undergoing corrective intervention were 51% males and 49% females, almost all were term (97.5%) with mean birth weight 3035g and nearly all were appropriate for gestational age (84.6%). 38.5% of them have had antenatal ultrasound for diagnosis. Congenital heart diseases were classified as cyanotic heart diseases (89.7%) and acyanotic (10.3%), the most common congenital heart disease was transposition of great arteries (28.7%), pulmonary atresia (25.6%) and coarctation of the aorta (20.5%). Almost of cases underwent palliative corrective intervention via cardiac catheterization, such as PDA stent (66.7%), Rashkind (35.9%), only 4 (10.3%) has complete repair. The nutritional status of these neonates at admission was 7.7% underweight, 17.9% wasting and 5.1% stunting. The patients were nourished mainly by enteral feeding (97.4%), via nasogastric sonde (69.2%). At the time of maximum enteral fluid intake, the mean caloric intake was 102 kcal/kg/day. The median weigh gain was 18.4 g/day, before corrective intervention was 23 g/day and after intervention was 17 g/day. The neonates underwent intervention at median 3 day-old, and discharged at 23 day-old. At that time, the proportion of 3 type of malnutrition were increased to 20.5% underweight, 15.4% wasting and 15.4% stunting.

Conclusion: Prevalence of malnutrition of neonates with CHD was high both before intervention and at discharge. Total energy intakes were lower than the recommendation.

Keywords: malnutrition, neonate, congenital heart disease, corrective intervention, caloric intake, anthropometric indices.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF