Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2017 - Tập 21 - Số 1
KHẢO SÁT TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ ĐIỀU TRỊ DINH DƯỠNG TRẺ HỘI CHỨNG RUỘT NGẮN NHẬP KHOA TIÊU HÓA BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1

Nguyễn Thanh Hiền Trang*, Bùi Quang Vinh**

TÓM TẮT :

Mục tiêu: Hội chứng ruột ngắn (HCRN) ở trẻ em là một thách thức cho điều trị. Mục đích nghiên cứu nhằm xác định tỉ lệ suy dinh dưỡng và các đặc điểm điều trị dinh dưỡng tại khoa tiêu hóa.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả loạt ca các bệnh nhi sau phẫu thuật cắt ruột non có HCRN nhập khoa Tiêu hóa BV Nhi đồng 1 từ tháng 1/2012 đến tháng 6/2016. Tiêu chuẩn HCRN nếu chiều dài đoạn ruột còn lại <100 cm; hoặc cần nuôi tĩnh mạch trên 42 ngày để duy trì cân nặng.

Kết quả: Tổng cộng 46 bệnh nhân bao gồm 54,3% nam, nhập viện trung vị ngày 2 sau sinh, 60,9% đủ tháng, cân nặng trung bình 2650 ± 595 g. Bệnh lý gây cắt ruột chủ yếu Hirschsprung (45,7%) và teo ruột non (26,1%). Chiều dài đoạn ruột còn lại sau phẫu thuật trung bình là 73,7 ± 23,4 cm, trong đó 13% chiều dài ruột <40 cm. Tỉ lệ SDD lúc nhập khoa tiêu hóa (2 ± 1 tháng tuổi) là 91,3% nhẹ cân, 78,1% teo, và 56,3% thấp còi. Tỉ lệ SDD lúc xuất viện (3,5 ± 1,5 tháng tuổi) lần lượt là 97,8%, 56,3%, và 90,6%; có giảm tỉ lệ SDD cấp, nhưng tăng tỉ lệ SDD mãn (p < 0,05). Nuôi ăn tĩnh mạch trung ương qua CVC trong 71,7% trẻ, dung dịch lipid trong 60,9% trẻ, với thời gian trung vị (25, 75 bách phân vị) là 32(25-56) ngày, và năng lượng tối đa cung cấp qua đường TM: 95,8 ± 19,2 kcal/kg/ngày. Nuôi ăn qua sonde dạ dày trong 91,3% trẻ, đa số nhỏ giọt chậm 1giờ (76,7%), chỉ 35,7% nhỏ giọt chậm liên tục trong 24 giờ. Thời gian điều trị trung bình tại bệnh viện 119,4 ± 48,5 ngày. Tốc độ tăng cân trung bình của trẻ trong thời gian điều trị tại khoa tiêu hóa là 10,3g/ngày. Biến chứng thường gặp là rối loạn điện giải (natri máu thấp 84,2%, kali thấp 58,7%, canxi thấp 73,9%, magie thấp 75%, phospho thấp 84%) và nhiễm trùng huyết liên quan CVC (44,4%). Tử vong hoặc bệnh nặng xin về cao 19/46(41,3%). Theo dõi 27 bệnh nhi sau xuất viện có 21(77,8%) trẻ còn sống với tuổi trung bình là 22,5 tháng tuổi. So với nhóm sống, nhóm tử vong hoặc bệnh nặng xin về có thời điểm phẫu thuật trễ, cân nặng trung bình lúc xuất viện thấp và tốc độ tăng cân thấp hơn (P <0,05).

Kết luận: HCRN ở trẻ em có tỷ lệ suy dinh dưỡng và tỷ lệ tử vong cao trong điều kiện nuôi ăn tĩnh mạch trung tâm và nuôi ăn qua sonde dạ dày liên tục còn hạn chế. Cần cải thiện dinh dưỡng hỗ trợ để giảm suy dinh dưỡng và tử vong.

Từ khóa: Hội chứng ruột ngắn (HCRN), dinh dưỡng hỗ trợ, nuôi ăn tĩnh mạch trung ương TPN, suy dinh dưỡng.

ABSTRACT :

Objectives: Short gut syndrome in children is a challenge to the treatment. Purpose of the study is to determine ratios of malnutrition and characteristics of nutritional treatments in patients treated at the

gastroenterology ward.

Methods: A case series study of patients after small intestinal resection admitted in the gastroenterology ward of the children hospital 1 from 1/2012 to 6/2016. Criteria of short gut syndrome was defined as either the length of remaining intestine <10 cm or needing intravenous nutrition >42 days to maintain body weigth.

Results: A total of 46 patients consisted of 54,3% boys, admitted at median of 2 days after delivery, 60,9% at term, and birth weight mean 2650 ± 595 g. Pathology was mainly Hirschsprung disease (45.7%) and small intestine atrophy (26.1%). The remaining length of the intestine after surgery was 73.7 ± 23.4 cm; 13% having intestine length <40 cm. The ratios of malnutrition on GI admission (2 ± 1 months old) were 91.3% underweight, 78.1% wasting, and 56.3% stunting. The ratios at hospital discharge (3.5 ± 1,5 months old) were on respectively 97.8%, 56.3%, 90.6%; with a significant decrease in acute malnutrition but increase in chronic malnutrition (P <0.05). Total parentaral nutrition via CVC was performed among 71.7% patients, lipid solution among 60.9%, with median (IQR) duration of 32(25-56) days and maximum energy intake of 95.8 ± 19,2 kcal/kg/day. Nasogatric gavage was performed in 91.3% cases, often slow bolus during 1 hour (76.7%), only 35.7% continuous gavage. Duration mean of hospitalization was 119.4 ± 48,5 days. Weight gain velocity mean was 10.3 g/day during the GI ward. Common complications were electrolytic disorders (hyponatremia 84.2%, hypokalemia 58.7%, hypocalcemia 73%, hypomagnemia 75%, hypophosphatemia 84%) and sepsis related to CVC (44.4%). Mortality was high as 19/46(44.4%). Follow-up after discharge among 27 patients by phone revealed 21(77.8%) survives with mean age of 22.5 years old. Compared to the suvive group, the death group had later operation time, lower body weight at discharge, and decreased weight gain velocity (P <0.05).

Conclusions: Short gut syndrome in children had high ratios of malnutrition and mortality.given limited TPN and continuous gastric gavage. We need more nutritional supports to improve nutritional status and mortality.

Keywords: Short bowel syndrome, total parenteral nutrition, malnutrition, nutrition support.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF