Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2016 - Tập 20 - Số 5
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NONG THỰC QUẢN BẰNG BỘ NONG MALONEY VÀ TUCKER TRÊN TRẺ HẸP MIỆNG NỐI SAU MỔ TEO THỰC QUẢN BẨM SINH

Lê Nguyễn Ngọc Diễm*, Trương Quang Định**

TÓM TẮT :

Mục tiêu: Hẹp miệng nối (HMN) là một trong những biến chứng thường gặp nhất sau mổ teo thực quản và có thể được điều trị hiệu quả, đơn giản bằng nong thực quản. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả và biến chứng của phương pháp nong thực quản bằng bộ nong Maloney và Tucker trên trẻ HMN sau mổ teo thực quản bẩm sinh tại bệnh viện Nhi Đồng 2.

Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang. Đối tượng nghiên cứu là tất cả những trẻ HMN sau mổ teo thực quản được nong thực quản tại bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 01/01/2012 đến 31/03/2016, có thời gian theo dõi tái khám ít nhất là 3 tháng kể từ lần nong cuối cùng.

Kết quả: Có 73 trường hợp HMN sau mổ teo thực quản cần nong thực quản trong nghiên cứu.Tỉ lệ thành công chung của bộ nong Maloney và Tucker là 91,8% thất bại là 1,4%. Biến chứng thủng thực quản 5,5%, viêm phổi hít 1,4% và tỉ lệ tử vong là 4,1%. Số lần nong trung bình là 5,9 lần (1-28 lần), thời gian nong trung bình là 14,4 tháng (0-49 tháng). Tỉ lệ đáp ứng tốt (sau 1 lần nong) là 2,9%, đáp ứng trung bình (từ 2-5 lần nong) là 52,2% và đáp ứng kém (trên 5 lần nong) là 44,9%. TNDDTQ làm tăng số lần nong cần thiết để đạt hiệu quảtrong khi sử dụng thuốc ức chế bơm proton giúp làm giảm số lần nong và thời gian nong (p<0,05).

Kết luận: Nong thực quản bằng Maloney và Tucker là phương pháp có hiệu quả nhưng biến chứng thủng thực quản là khá cao. Sử dụng thuốc ức chế bơm proton đầy đủ giúp giảm số lần nong và thời gian nong cần thiết để đạt hiệu quả.

Từ khóa: Hẹp miệng nối, teo thực quản, nong thực quản, bộ nong Maloney, bộ nong Tucker.

ABSTRACT :

Objective: Anastomosis stricture is one of the most common complications of esophageal atresia surgery. It can be treated simply and effectively by dilatation. This research is to assess efficacy and complications of using Maloney and Tucker dilators in management of anastomosis strictures following esophageal atresia repair.

Methods: We carried out across sectional study enrolling all children with anastomosis strictures secondary to esophageal atresia surgery who were dilated at Children’s Hospital 2 from January 2012 to March 2016 and were followed up at least three months from last dilatation.

Results: There were 73 subjects in our study. Dilatation was successful in 91.8% of patients and unsuccessful in 1.4% of patients. Perforation occurred in 5 cases (5.5%), aspiration pneumonia was in 1 case (1.4%) and mortality rate was 4.1%. Stricture resolution was obtained after a mean of 5.9 dilations (1-28) over an average period of 14.4 months (0-49). Response to dilatation was excellent in 2.9% of patients, satisfactory in 52.2% of patients and fair in 4.9% of patients. GERD was related to requirement more sessions for resolution while anti reflux medical treatment reduced the number and the period of sessions (p<0.05).

Conclusion: Dilatation using Maloney and Tucker dilators is an effective therapy but perforation is a remarkable complication. A protocol of prescribing proton pump inhibitors plays a role in reducing the number and the period of sessions.

Keywords: Anastomosis stricture, esophageal atresia, esophageal dilatation, Maloney dilators, Tucker dilators.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF