Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2016 - Tập 20 - Số 5
TỶ LỆ BẾP ĂN TẬP THỂ - CĂN TIN TRƯỜNG HỌC TẠI QUẬN 5, TP. HỒ CHÍ MINH ĐẠT ĐIỀU KIỆN AN TOÀN THỰC PHẨM, NĂM 2015

Nguyễn Thị Mười*, Lê Thị Ngọc Ánh **, Lê Vinh**

TÓM TẮT :

Đặt vấn đề: Năm 2006-2010, thành phố Hồ chí Minh đã có 98 vụ ngộ độc thực phẩm tập thể, với 1.827 người mắc và 05 người tử vong. Tại quận 5, TP.HCM, trong thời gian qua đã xảy ra 4 vụ ngộ độc thực phẩm tại các trường học, với 820 người mắc. Nghiên cứu được tiến hành nhằm cung cấp các thông tin cho các cơ quan quản lý, góp phần cải thiện tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm, ngăn ngừa các vụ ngộ độc thực phẩm có thể xảy ra.

Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỉ lệ các bếp ăn tập thể (BATT) tại quận 5 thành phố Hồ Chí Minh năm 2015 đạt các điều kiện VSATTP và tỉ lệ người chế biến thức ăn có kiến thức đúng về VSATTP. Xác định mối liên quan giữa kiến thức của người chế biến với các đặc tính mẫu nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu: Đây là nghiên cứu cắt ngang mô tả, lấy mẫu toàn bộ 78 bếp ăn tập thể, căn tin trường học gồm các trường cao đẳng, đại học, phổ thông trung học, trung học cơ sở, tiểu học, mầm non và nhóm trẻ gia đình phục vụ suất ăn từ 30-1500 suất /ngày trên địa bàn Quận 5, Tp.HCM và toàn bộ 235 nhân viên chế biến tại các BATT này. Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp kiến thức của người chế biến và bảng quan sát trực tiếp điều kiện vệ sinh của bếp ăn tập thể. Sử dụng kiểm định chi bình phương hoặc Fisher để xác định mối liên quan giữa các biến số.

Kết quả nghiên cứu: Chỉ có 28,2% BATT đạt các điều kiện về VSATTP. Tỉ lệ nhân viên chế biến có kiến thức đúng về VSATTP là 22,5%. Các nội dung kiến thức phần lớn người chế biến sai gồm kiến thức về vệ sinh cá nhân, vệ sinh trong chế biến, phân chia và bảo quản thực phẩm, vệ sinh trong khu vực chế biến và lưu mẫu. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy những bếp ăn hợp đồng nấu có tỉ lệ đạt quy định về điều kiện con người cao hơn bếp tự tổ chức nấu. Có mối liên quan giữa kiến thức vệ sinh trong khu vực chế biến với giới tính, thời gian làm việc tại bếp và thời gian làm việc trong nghề (với p<0,05). Trong đó, nam có kiến thức đúng cao hơn nữ. Người chế biến làm việc tại BATT khảo sát ≥ 3 năm có kiến thức đúng cao hơn người làm dưới 1 năm. Những người có thời gian làm việc trong nghề ≥ 5 năm có kiến thức đúng cao hơn người làm dưới 5 năm. Ngoài ra, có mối liên quan giữa kiến thức lưu mẫu thức ăn với nhóm tuổi, thời gian làm việc trong nghề và tập huấn kiến thức VSATTP (với p<0,05). Những người có độ tuổi từ 35 trở lên có kiến thức đúng về lưu mẫu cao hơn người dưới 35 tuổi. Người đã từng tham gia tập huấn có kiến thức đúng cao hơn người chưa từng tham gia tập huấn.

Kết luận: Tiếp tục tăng cường công tác kiểm tra, nhắc nhở các BATT trên địa bàn quận 5, Tp.HCM đặc biệt là các bếp tự tổ chức nấu trong việc đảm bảo các điều kiện về VSATTP. Đẩy mạnh công tác truyền thông cũng như tập huấn kiến thức VSATTP cho người chế biến, nội dung kiến thức truyền thông cần tập trung vào các thông tin như vệ sinh trong khu vực chế biến, vệ sinh cá nhân, vệ sinh trong chế biến, phân chia, bảo quản thực phẩm và lưu mẫu.

Từ khóa: an toàn vệ sinh thực phẩm, bếp ăn tập thể, người chế biến thức ăn

ABSTRACT :

Background: From 2006-2010, there were 98 food poisoning outbreaks occurred, with 1827 infected people and 05 deaths in Ho Chi Minh city. In the past years, 04 food poisoning outbreaks occurred at schools in district 5, Ho Chi Minh city, with 820 infected people. This research was conducted to provide information for food safety authorities to improve food hygiene and safety, and prevent foodborne outbreaks.

Objectives: To identify the prevalence of school canteens meeting the food safety regulations and the prevalence of food-handlers having the right knowledge on food hygiene and safety in district 5, Ho Chi Minh city in 2015. To determine the relationship between the knowledge of food-handlers with their characteristics.

Methods: A descriptive cross-sectional study was conducted on the entire 78 school canteens including colleges, universities, high schools, secondary schools, elementary schools, kindergartens and private child cares which serve 30-1500 meal set /day in District 5, HCM city and all 235 food-handlers of these canteens. The study applied questionnaire to interview directly food-handlers’ knowledge, and checklists for direct observation to evaluate sanitary conditions of canteens. Chi-squared test or Fisher test were used to measure the relationship between variables.

Results: Only 28.2 % canteens attainted conditions of food safety. The proportion of right knowledge of food-handlers on food safety were 22.5 %. The aspects of knowledge which many food-handlers were wrong such as personal hygiene, food safety in processing, distribution and storage, hygiene in food processing area and storage area. The results show that the contracted canteens achieved human conditions higher than the self-organized cooking places. There was a relationship between knowledge on hygiene for food processing area with gender, working time in the canteen, and working time in cooking career (p<0.05). Male have the right knowledge than female. Food-handlers with working time in canteens ≥ 3 years have the right knowledge higher than people with time working under 1 year. Food-handlers with working time in this career ≥5 years have correct knowledge higher than people with working time less than 5 years. Additionally, there was a relationship between correct knowledge of food-handlers on saving food with age, working time in cooking career and training on food safety (p<0.05). Food-handlers ≥ 35 years age have right knowledge higher than people under this age. People had participated in training on food safety having right knowledge higher than those never training.

Conclusion: Strengthening on inspection and reminding food-handlers about food hygiene and safety, especially self-organized cooking canteens in district 5, Ho Chi Minh city. Promoting communication as well as training for food-handlers about food safety. Contents to communication should focus on keeping hygiene in food processing area, personal hygiene, food safety in the processing, distribution, storage, and saving food samples.

Keywords: food safety, canteens, food-handler

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF