Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2018 - Tập 22 - Số 1
ĐẶC ĐIỂM MÔ BỆNH HỌC, GIAI ĐOẠN BỆNH, KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI LỒNG NGỰC TRONG ĐIỀU TRỊ U TUYẾN ỨC KHÔNG CÓ NHƯỢC CƠ

Huỳnh Quang Khánh*, Trần Quyết Tiến*

TÓM TẮT :

Mục tiêu: Nghiên cứu đánh giá mô bệnh học, giai đoạn bệnh và hiệu quả phẫu thuật nội soi điều trị u tuyến ức giai đoạn I, II so sánh với mở xương ức.

Phương pháp nghiên cứu: đoàn hệ tiền cứu từ 7/2010-7/2013 tại khoa ngoại lồng ngực bệnh viện Chợ Rẫy. Chọn bệnh trong mổ u tuyến ức giai đoạn I, II. Trên phim CT ngực u tuyến ức trong thùy, có ranh giới rõ với tĩnh mạch thân tay đầu.

Kết quả: Chúng tôi phân tích 64 bệnh nhân u tuyến ức được mổ điều trị. Nhóm mổ nội soi 29 trường hợp, nhóm mở xương ức 35 trường hợp. Không có tử vong hay chuyển mổ mở. Đa số các trường hợp là u tuyến ức nhóm A (50%), kế đó là các trường hợp carcinôm tuyến ức (21,9%), AB chiếm 12,5%, B1 4,7%, B2 4,7%, B3 6,2%. Đa số các trường hợp u tuyến ức giai đoạn I (67,2%), kế đến là giai đoạn II (17,2%), giai đoạn III (14,1%), cuối cùng là giai đoạn IV (1,6%). Kích thước u trung bình trong nhóm mổ nội soi là 7,48 ± 2,32 cm nhóm mở xương ức là 8,17 ± 2,44 cm (p = 0,256). Thời gian mổ trung bình (phút) 89,65 ± 43,77 (nội soi) và 116,85 ± 45,16 mở xương ức (p = 0,018). Máu mất trung bình 56,72 ± 59,39 ml trong mổ nội soi ít hơn trong nhóm mở xương ức176,28 ±203,12 ml (p = 0,003). Thời gian hậu phẫu tương ứng 5,13 ± 1,40 ngày và 7,68 ± 1,93 ngày (p < 0.0001). Thời gian lưu ống dẫn lưu trung bình (ngày) 2,10 ± 0,30 và 3,08 ± 0,74 (p<0,001). Điểm đau sau mổ tương ứng 4,82 ±1,48 và 6,67 ± 1,40 (p<0,001). Tỉ lệ biến chứng 0,0% (VTS) và 2,9% (TS) với p = 0,359. Theo dõi trung bình 20,54 ± 10,62 tháng (từ 2 đến 38 tháng) ở cả nhóm mổ nội soi và nhóm mở xương ức. Có 1 trường hợp bệnh nhân giai đoạn III di căn màng phổi sau 6 tháng mổ nội soi, 1 trường hợp bệnh nhân giai đoạn II tái phát sau 12 tháng mổ nội soi. Các bệnh nhân còn lại không tái phát.

Kết luận: Về đặc điểm mô bệnh học trong u tuyến ức chủ yếu là nhóm A (50%) và nhóm C (21,9%). Về liên quan giữa mô bệnh học với giai đoạn bệnh: ở giai đoạn sớm loại mô học thường là nhóm A, còn giai đoạn muộn loại mô học thường là nhóm C. Kết quả phẫu thuật cho thấy mổ nội soi trong điều trị u tuyến ức tốt hơn về thời gian mổ, lượng máu mất, thời gian hậu phẫu, thời gian lưu ống dẫn lưu, đau sau mổ so với mở xương ức. Kết quả trung hạn không khác biệt có ý nghĩa giữa hai nhóm. Do vậy phẫu thuật nội soi cắt u tuyến ức nên xem xét áp dụng trong điều trị u tuyến ức giai đoạn sớm.

Từ khóa: U tuyến ức, mô bệnh học, giai đoạn bệnh, phẫu thuật nội soi lồng ngực, phẫu thuật nội soi lồng ngực hỗ trợ, mở xương ức.

ABSTRACT :

Purpose: This study was undertaken to investigate the pathology, staging and efficacy of a video thoracoscopic surgery (VTS) approach for stage I and II thymoma through comparisons with the trans-sternal (TS) approach.

Methods: a prospective cohort two group VTS approach and trans-sternal (TS) approach. From July 2010 to July 2013 at Thoracic Surgery Department Cho Ray hospital. The indications for VTS or TS resection were clinical stage I or II thymoma. On Chest CT scan, the tumor was located within the thymic lobes and separated from the brachiocephalic vein.

Results: 64 patients underwent total thymectomy (29 by VTS and 35 by the trans-sternal approach). The pathology: most of them are type A (50%), next are type C (21.9%), type AB (12.5%), B1 (4.7%), B2 (4.7%), B3 (6.2%). The staging: Most of them are stage I (67.2%), next are stage II (17.2%), stage III (14.1%), stage IV (1.6%). The mean tumor size was 7.48 ± 2.32 cm for VATS and 8.17 ± 2.44 cm for the trans-sternal group (p = 0.256). The mean lengths of the operation were 89.65 ± 43.77 min and 116.85 ± 45.16 min (p = 0.018), respectively. The mean intraoperative blood loss was significantly lower in VTS, at 56.72 ± 59.39 ml, than the 176.28 ±203.12 ml lost in the trans-sternal group (p = 0.003) respectively. The mean lengths of postoperative stays (LOS) were 5.13 ± 1.40 days and 7.68 ± 1.93 days (p < 0.0001), respectively. The median chest tube duration (days) were 2.10 ± 0.30 and 3.08 ± 0.74 (p<0.001), respectively. The median pain score postoperative was 4.82 ±1.48 and 6.67 ± 1.40 (p<0.001), respectively. Complication rates were 2.9% (TS) versus 0.0% (VTS), p = 0.359. None of operative mortality observed or none of VTS was converted to open procedures. The mean follow-up periods were 20.54 ± 10.62 (2-38) months following VTS and TS groups. One stage III patient developed pleural dissemination six months after VTS resection. One stage II patient had recurrence 12 months after VTS. Other patients survived with no recurrence.

Conclusions: The pathology: most of them are type A (50%), next are type C (21.9%). The early stage is relative with type A and the late stage is relative with type C. VTS resection of early stage thymoma can be performed with shorter operative time, less blood loss, shorter LOS, shorter chest tube duration and less postoperative pain score than to the trans-sternal approach. VTS resection should thus be considered as a viable option for treatment.

Keywords: Thymoma, pathology, staging, video thoracoscopic surgery-VTS, VATS, Trans-sternal (TS).

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF