Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2018 - Tập 22 - Số 1
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM LỒI ỐNG THẦN KINH THỊ VÀO LÒNG CÁC XOANG SAU TRÊN PHIM MSCT VÙNG MŨI XOANG

Nguyễn Thị Thúy An*, Lê Văn Phước**, Lâm Huyền Trân***

TÓM TẮT :

Đặt vấn đề: Tổn thương thần kinh thị (TKT) là một biến chứng nghiêm trọng trong phẫu thuật nội soi mũi xoang. Nguyên nhân chủ yếu là do sự phức tạp về mặt giải phẫu của TKT với xoang sàng sau và xoang bướm (XB).

Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm của lồi ống TKT vào hệ thống các xoang sau.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thực hiện trên 120 bệnh nhân trên 18 tuổi, được chụp MSCT vùng mũi xoang tại bệnh viện Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh từ 06/2016 – 06/2017. Hình ảnh được tái tạo MPR với độ dày lát cắt 0,6mm, trên ba bình diện–trán, trục và đứng dọc. Phân loại mức độ lồi thần kinh thị vào lòng các xoang sau theo Delano dựa trên góc lồi đo đạc được, cũng như kích thước các thành ống thần kinh thị, từ đó ước tính diện tích lồi.

Kết quả: Trên 240 hệ xoang được phân tích, lồi TKT loại 2 chiếm tỷ lệ cao nhất 46,66%, với góc lồi trung bình là 87,450 ± 14,090.  Chiều dài thành trong trung bình là 11 mm (dao động từ 49 mm đến 16,9 mm), với trung bình ở nam giới là 11,79 mm, và nữ giới là 10,55 mm (p<0,001). Tế bào Onodi hiện diện trong 25,42% (61/240 hệ xoang). Góc lồi trung bình của ống TKT vào lòng các xoang sau trong trường hợp không có tế bào Onodi và hiện tượng khí hóa mấu yên trước là 89,630 so với 198,520 khi hiện diện cả hai hiện tượng này. Diện tích lồi trung bình của ống TKT vào lòng xoang sau là 63mm2, chiếm 30,14 % diện tích xung quanh.

Kết luận: Mức độ lồi của ống TKT vào lòng các xoang sau, khoảng dao động của chiều dài thành trong, diện tích lồi biến thiên rất lớn. Do đó, cần phải xem xét cẩn thận đặc điểm ống TKT trong phẫu thuật tiếp cận ống thần kinh này cũng như hệ thống các xoang sau trên MSCT trước mổ.

Từ khóa: Thần kinh thị, xoang sàng sau, xoang bướm, lồi thần kinh thị

ABSTRACT :

Background: Damage to the optic nerve (ON) is a serious complication of intranasal sinus surgery. The most common cause is the anatomical variation of the ON and the posterior paranasal sinuses (PPS).

Objective: To assess the relationship between ON and the posterior paranasal sinuses.

Methods: Cross-sectional study, 120 paranasal sinuses MSCT scan of Vietnamese patient’s older than 18 years old at the University Medical Center Ho Chi Minh City from 06/2016 - 06/2017. Multiplanar reconstruction images were assessed for ONC relation to posterior ethmoid and sphenoid sinuses, according to the modification of Delano et al, based on the measurement of degree of exposure into the PPS, and also the size of the Ons. From those we calculated the surface area of the optic canal protrusion.

Results:All 240 optic nerve canals were analyzed, the most common optic nerve canal was Type 2 (46.66%), with the average degree of exposure  was 87.450 ± 14.090. The average medical canal wall length was 11 mm (range, 4.9 mm to 16.9 mm), with the average of 11.79 mm for males, and 10.55 mm for females (p<0.001). Onodi cells were presented in 25.42% (61/240 sinus systems). The average surface area of canal protrusim was 63 mm2, or 30.14% of the total surface area.

Conclusion:The level of protrusion of ON canals to the posterior paranasal sinuses is highly variable as well as the variation in the medial canal wall length and exposure of the optic canal. Therefore, it is necessary to examine carefully the characters of ON canal by a MSCT Scan before sugery.

Keywords: Optic nerve (ON), sphenoid sinus (SS), posterior ethmoide sinus, optic nerve protrusion

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF