Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2018 - Tập 22 - Số 3
CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ CHU PHẪU LIÊN QUAN ĐẾN THỞ MÁY KÉO DÀI SAU PHẪU THUẬT TIM BẨM SINH Ở TRẺ EM

Hoàng Anh Khôi*, Nguyễn Thị Quý*

TÓM TẮT :

Mục tiêu nghiên cứu: Dù có nhiều tiến bộ về kỹ thuật mổ, bảo vệ cơ tim trong lúc chạy tuần hoàn ngoài cơ thể (THNCT) và gây mê hồi sức, các bệnh nhân trẻ em vẫn thường phải thở máy kéo dài sau mổ tim và làm tăng nguy cơ các biến chứng sau mổ. Nhiều tác giả ở nhiều trung tâm mổ tim nhi trên thế giới đã đưa ra các yếu tố nguy cơ thở máy kéo dài, tuy nhiên những yếu tố nguy cơ này khác nhau giữa các trung tâm. Do đó, chúng tôi làm nghiên cứu này để xác định các yếu tố chu phẫu có liên quan đến thở máy kéo dài sau phẫu thuật tim bẩm sinh ở trẻ em tại Viện Tim Tp Hồ Chí Minh.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu. Sau khi có sự chấp thuận của Hội Đồng Y đức của bệnh viện, tất cả những bệnh nhân trẻ em từ 15 tuổi trở xuống, được phẫu thuật tim bẩm sinh với tuần hoàn ngoài cơ thể ở Viện Tim đều được đưa vào nghiên cứu. Loại khỏi nghiên cứu những bệnh nhân được mổ tim mà không có chạy THNCT và những bệnh nhân tử vong sớm sau mổ. Chúng tôi định nghĩa thở máy kéo dài là thời gian thở máy từ khi đến phòng hồi sức đến khi rút nội khí quản là hơn 48 giờ. Bệnh nhân được chia thành 2 nhóm: nhóm bệnh nhân thở máy kéo dài (TMKD) và nhóm bệnh nhân không TMKD. Các đặc điểm bệnh nhân như tuổi, cân nặng, tình trạng tím trước mổ, các biến số chu phẫu có thể có liên quan đến TMKD đều được ghi nhận và đưa vào phân tích.

Kết quả: Từ tháng 1/2014 đến tháng 12/2015, 309 bệnh nhân đã được đưa vào nghiên cứu. Có 9 bệnh nhân bị tử vong sớm sau mổ nên được loại ra khỏi nghiên cứu. Tuổi trung vị của bệnh nhân khi mổ là 1,5 tuổi (từ 14 ngày tuổi đến 14 tuổi). Thời gian thở máy trung vị là 23 giờ (3 giờ-588 giờ). Tỉ lệ bệnh nhân được rút nội khí quản sớm (≤ 24 giờ) là 54% (162 trường hợp). Tỉ lệ bệnh nhân được thở máy kéo dài>48 giờ là 28,3% (85 bệnh nhân). Thời gian thở máy trung vị của nhóm TMKD là 116 giờ (49-588 giờ), và thời gian thở máy trung vị của nhóm không TMKD là 17 giờ (3-48 giờ). Phân tích đơn biến cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) giữa hai nhóm TMKD và không TMKD liên quan đến tuổi, cân nặng, tím trước mổ, Sp02 trước mổ, PAPs trước mổ, chỉ số tim/lồng ngực, phân nhóm nguy cơ của phẫu thuật tim bẩm sinh (RACHS-1), tiền căn sử dụng kháng sinh trước mổ, thời gian chạy THNCT, thời gian kẹp động mạch chủ, thời gian mổ, sử dụng thuốc tăng co bóp cơ tim cuối mổ, để hở xương ức cuối mổ, rút nội khí quản thất bại sau mổ, nồng độ lactate máu sau mổ, chỉ số dùng thuốc vận mạch- tăng co bóp cơ tim (vasoactive inotropic score, VIS) ở các thời điểm: 0 giờ, 24 giờ, 48 giờ, 72 giờ sau mổ, và thời gian nằm hồi sức sau mổ. Phân tích hồi qui đa biến cho thấy các yếu tố tiên lượng thở máy kéo dài sau mổ tim bẩm sinh trẻ em bao gồm: nhẹ cân, áp lực động mạch phổi trước mổ cao, phân độ nguy cơ trong mổ tim bẩm sinh (RACHS-1) mức độ cao, thời gian mổ dài và chỉ số dùng thuốc vận mạch–tăng co bóp cơ tim (VIS H48) cao ở giờ thứ 48 sau mổ.

Kết luận: Các yếu tố tiên lượng thở máy kéo dài sau mổ tim bẩm sinh trẻ em trong nghiên cứu của chúng tôi bao gồm: nhẹ cân, áp lực động mạch phổi trước mổ cao, phân độ nguy cơ trong mổ tim bẩm sinh (RACHS-1) mức độ cao, thời gian mổ dài và chỉ số dùng thuốc vận mạch–tăng co bóp cơ tim (VIS H48) cao ở giờ thứ 48 sau mổ.

Từ khóa: thở máy kéo dài, phẫu thuật tim bẩm sinh trẻ em, chỉ số dùng thuốc vận mạch-tăng co bóp cơ tim

ABSTRACT :

Objective: Despite recent advances in surgical techniques combined with improvements in myocardial protection during cardiopulmonary bypass and anesthesia management, prolonged mechanical ventilation (PMV) was frequently resorted to among pediatric congenital heart surgery patients which may increase the risk of postoperative complications. A series of risk factors associated with PMV following pediatric cardiac surgery have been identified; however, these risk factors varied among different reports. Therefore, an exclusive research was performed to determine perioperative factors associated with PMV in pediatric patients following congenital heart surgery at Ho Chi Minh city Heart Institute.

Patients and methods: Prospective cohort study. Given approval by the Institutional Research and Ethics Committee, all pediatric patients (less than 15 years) admitted to pediatric Intensive Care Unit after congenital heart surgery with cardiopulmonary bypass at the Ho Chi Minh city Heart Institute were considered. Patients undergoing cardiac surgery without cardiopulmonary bypass or early dead postoperatively were excluded. PMV was defined as mechanical ventilation duration more than 48 hours from the time of arrival to ICU to the time of successful extubation. Patients were divided in two groups: PMV group versus non-PMV group. Demographic data including age, sex, weight, cyanosis, and all perioperative variables related to PMV were recorded and analysed.

Results: From 1/2014 to 12/2015, a total of 309 patients were enrolled in this study. Nine early death after intervention were excluded from the study. The median age was 1.5 years (from 14-day to 14-year-old). The median duration of mechanical ventilation was 23 hours (from 3 to 588 hours). The incidence of early extubation (less than 24 hours) was 54% (162 cases). The incidence of PMV > 48h was 28.3% (85 cases). The median duration of MV in the PMV group was 116 hours (from 49 to 588 hours) and the median duration MV in the non–PMV group was 17 hours (from 3 to 48 hours). Univariate analyses showed statistical significant difference (p≤0.05) between the two groups PMV and non-PMV relating to age, weight, preoperative cyanosis, SpO2, preoperative PAPs, cardio-thoracic ratio, RACHS-1 classification (risk adjustment in congenital heart surgery), the preoperative use of antibiotics, CPB (cardiopulmonary bypass) duration, aortic cross clamp time, operation time, the use of inotropic support, delayed sternal closure, extubation failure, postoperative lactate level, VIS (vasoactive inotropic score) at 0h, 24h, 48h, 72h postoperatively and ICU stay. Multivariate logistic regression showed statistical indicators for PMV after pediatric cardiac surgery: lower weight, higher PAPs, higher RACHS-1 classification, longer operation time, and higher VIS at 48h.

Conclusion: Predictors of PMV after pediatric congenital heart surgery in our study were identified: lower weight, higher preoperative PAPs, higher RACHS-1 classification, longer operation time, and higher VIS at 48h.

Keyword: prolonged mechanical ventilation, pediatric congenital heart surgery, vasoactive inotropic score (VIS)

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF