Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2018 - Tập 22 - Số 3
GÂY MÊ HỒI SỨC Ở BỆNH NHÂN PHẪU THUẬT NỘI SOI Ổ BỤNG Ở NGƯỜI LỚN CÓ HỖ TRỢ ROBOT DA VINCI

Phạm Văn Đông*, Đỗ Chí Cường*

TÓM TẮT :

Đặt vấn đề: Phẫu thuật có hổ trợ robot lần đầu tiên được tiến hành tại Mỹ vào cuối thập niên 1980 và ngày nay phổ biến ở châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc. Trong những thập kỹ qua, phẫu thuật nội soi có hổ trợ robot được áp dụng ngày càng phổ biến trên thế giới. Phẫu thuật robot mang đến những ưu điểm trong phẫu thuật nội soi như thẩm mỹ hơn, giảm đau sau mổ tốt hơn, ít biến chứng phẫu thuật và hồi phục sớm hơn nên thời gian nằm viện ngắn hơn. Nhiều hệ thống robot đã được áp dụng trong nhiều chuyên khoa khác nhau. Gần đây, hệ thống phẫu thuật robot da Vinci là hệ thống robot được sử dụng nổi bật tại Việt Nam. Bệnh viện Bình Dân TP. Hồ Chí Minh là đơn vị đầu tiên tại Việt Nam ứng dụng công nghệ robot trong phẫu thuật nội soi người lớn. Những cài đặt và vận hành trong phẫu thuật có hổ trợ của robot khác với các phẫu thuật thường quy. Các bác sỹ gây mê hồi sức cũng cần hiểu biết về những ảnh hưởng, những thay đổi khi phẫu thuật có sự hổ trợ robot để có kế hoạch gây mê và hồi sức an toàn cho bệnh nhân. Bệnh viện Chợ Rẫy lần đầu tiên sử dụng hệ thống robot da Vinci vào ngày 20 tháng 10 năm 2017. Chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm đánh giá gây mê hồi sức ở bệnh nhân người lớn được phẫu thuật nội soi ổ bụng có hổ trợ robot da Vinci.

Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp mô tả cắt ngang, thu thập số liệu của tất cả bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật nội soi ổ bụng có hổ trợ robot DaVinci từ 01/10/2017 - 28/2/2018 tại khoa Bệnh Gây mê hồi sức Bệnh viện Chợ Rẫy.

Kết quả nghiên cứu: Tỉ lệ nam/nữ: 2/1, tổng số 36 bệnh nhân. Tuổi trung bình 51,5 ± 6,5, tuổi nhỏ nhất 25, lớn nhất 76 tuổi, trong đó người cao tuổi chiếm tỉ lệ 38,9%. BMI trung bình 22,4 ± 0,39, lớn nhất 27 và nhỏ nhất 17. Loại phẫu thuật của khoa ngoại tổng quát là 10 trường hợp, khoa gan mật tụy và tiết niệu đều là 13 trường hợp. Tất cả thuốc mê duy trì trong phẫu thuật đều sử dụng kết hợp propofol kết hợp sevorane. Thời gian nằm viện trung bình là 15,6 ± 1,67 ngày, thấp nhất là 7 ngày và cao nhất là 38 ngày. Thời gian phẫu thuật trung bình 431 ± 65 phút, thấp nhất là 240 phút của khoa gan mật tụy và cao nhất là 630 phút của khoa ngoại tiết niệu. Số lượng mất máu trung bình là 432,7 ± 182 mL, trong đó có 4 trường hợp cần truyền máu, cao nhất là 4 đơn vị hồng cầu lắng 350 mL, một trường hợp truyền 3 đơn vị và 2 trường hợp truyền 2 đơn vị. Tổng số dịch truyền trung bình trong phẫu thuật là 2831,1 mL, cao nhất 4500 mL và thấp nhất 1200 mL. Các kết quả trong quá trình phẫu thuật được ghi nhận không có trường hợp nào mất ý thức, không có tử vong và đều được xuất viện theo dự kiến, không có biến chứng tổn thương đầu chi trong và sau phẫu thuật, chúng tôi ghi nhận có 3 trường hợp nôn ói sau phẫu thuật (8,3%), 2 trường hợp phù đầu cổ (5,5%) và 6 trường hợp phù kết mạc (16,7%). Về ảnh hưởng huyết động có 20 trường hợp (55,5%) có rối loạn nhịp chậm hoặc tụt huyết áp cần sử dụng ephedrine hoặc phenylephedrine sau đó mạch và huyết áp ổn định, chỉ có 2 (5,5%) trường hợp cần phải sử dụng vận mạch đến khi chuyển ICU nhưng sau đó cũng ngừng được vận mạch.

Kết luận: Phần lớn bệnh nhân có chỉ định được phẫu thuật nội soi có hổ trợ robot đều có kết quả phẫu thuật tốt nhờ những lợi điểm của robot, bác sỹ gây mê hồi sức cần theo dõi và điều trị thích hợp với những thay đổi của vấn đề hô hấp - tim mạch, các ảnh hưởng đi kèm khi bệnh nhân ở tư thế Trendelenburg và có bơm hơi trong ổ bụng.

Từ khóa: phẫu thuật nội soi, robot da Vinci, gây mê hồi sức

ABSTRACT :

Background: Robot-assisted surgery was first employed by the end of 1980s, and has since become popular in the U.S., Europe, Japan, and South Korea for complex surgeries. Over the past decade, robot-assisted surgery has become widespread in a variety of operations. Basically, robotic surgery offers the benefits of laparoscopic surgery, such as improved cosmesis, reduced postoperative pain, and wound complications, and faster recoveries, with shorter hospital stays. Several robotic systems have attempted to enter the field of robotic surgery. Presently, the da Vinci system of Intuitive Surgical is the only commercially available robotic system, and is predominant in Vietnam. Binh Dan hospital in Hochiminh city is the first in the country to perform robotic endoscope surgeries for adult patients. The settings for robotic surgery require specific considerations that differ from conservative surgical techniques. The modern anesthesiologist should keep abreast of these changes, and consider the impact on the anesthetic plan and patient safety. Ho Chi Minh City-based Cho Ray Hospital puts into operation its newest robotic endoscopic surgery system on October 23rd. These issues will be reviewed in this article.

Methods: A retrospective, cross-sectional study of all the patients having indication of robot-assisted laparoscopic surgery in adults at Anesthesiology and critical care department in Cho Ray Hospital from Oct 1st, 2017 to Feb 28th, 2018.

Results: The ratio between male and female was approximately 2:1 among all 36 inpatients. The mean age was 51.5 ± 6.5 with the oldest at 76 and the youngest at 25 years old. The mean body mass index (BMI) was 22.4 ± 0.39. There were 10 cases from general surgery department. In addition, urology, liver and pancreas combined had 13 cases. Maintenance of general anesthesia included propofol and severance. Average length of stay in hospitals was 15.6 ± 1.67 days, with the minimum 7 days and the maximum 38 days. The mean time from induction to the end of surgery was 431± 65 minutes, with the minimum of 240 minutes (liver and pancreas) and the maximum of 630 minutes (urology department). The average amount of blood loss was 432.7 ± 182 mL. Four patients received blood transfusion with a maximum of 4 packed red blood cells unit. The mean of perioperative intravenous fluids was 2831.1, with the minimum of 1200 mL and the maximum of 4500 mL. The surgical complications observed included no case of cognitive dysfunction, death, digit injury, head and neck edema (5.5%), conjunctival edema (16.7%), arrhythmia (bradycardia) or low pressure (55.5%), postoperative nausea and vomiting (8.3%), need for ICU (5.5%), need for vasopressor agents (5.5%).

Conclusion: Although the majority of patients generally tolerate robot-assisted surgery well and appreciate the benefits, anesthesiologists must consider the changes in the cardiopulmonary system that occur when patients are placed in Trendelenburg position, and when pneumoperitoneum is created.

Keywords: laparoscopic surgery, robot da Vinci, anesthesia

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF