Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2018 - Tập 22 - Số 3
BÁO CÁO CA LÂM SÀNG: TỔN THƯƠNG ĐÁM RỐI THẮT LƯNG CẤP SAU GÂY TÊ TRỤC THẦN KINH

Lưu Kính Khương*, Lê Thị Bích Trâm*

TÓM TẮT :

Gây tê tủy sống là một phương pháp vô cảm phổ biến và được sử dụng rộng rãi. Đây là một kỹ thuật đơn giản, dễ thực hiện, tương đối rẻ tiền và hiệu quả để tạo ra tình trạng mất cảm giác và vận động khá tốt cho phẫu thuật vùng bụng dưới và hai chi dưới, cũng như giảm đau sau mổ với tỷ lệ thành công khá cao. Một số lợi ích của gây tê tủy sống bao gồm giảm huyết khối tĩnh mạch sâu, giảm mất máu trong khi mổ, cũng như phòng ngừa hít sặc trong trường hợp mổ cấp cứu, đặc biệt ở những bệnh nhân có vấn đề về đường hô hấp tiềm ẩn và các bệnh lý đường hô hấp mà không thể gây mê nội khí quản được. Do tính chất xâm lấn của tê tủy sống, có một số loại biến chứng có thể xảy ra với tỷ lệ khác nhau. Tổn thương thần kinh trung ương hiếm nhưng thường đe dọa tính mạng, trong đó xuất huyết gây chèn ép tủy cấp chiếm 1/220.000. Tổn thương thần kinh thoáng qua thường gặp hơn tùy thuộc vào nhiều yếu tố như kỹ thuật, loại thuốc tê sử dụng… nhưng thường ít khi phục hồi tốt. Qua ca lâm sàng chúng tôi báo cáo một trường hợp tổn thương đám rối thần kinh cấp tính sau phẫu thuật thay khớp háng.

Ca lâm sàng: Bệnh nhân nam, 35 tuổi, tiền sử khỏe, được chẩn đoán thoái hóa khớp háng phải. Xét nghiệm tiền phẫu bình thường cho phép gây tê tủy sống ở khoang liên đốt sống L3L4 phối hợp gây tê ngoài màng cứng phẫu thuật thay khớp háng phải. Sau phẫu thuật bệnh nhân yếu và mất cảm giác chân bên trái. Kết quả MRI cột sống thắt lưng không cản từ: không ghi nhận tổn thương tủy chóp cùng hoặc chèn ép rễ thần kinh. Kết quả EMG lần 1: gợi ý tổn thương dây thần kinh mác, rễ L5. Kết quả EMG lần 2: tổn thương cấp tính đám rối thần kinh thắt lưng cùng bên trái, trong đó tổn thương đám rối thần kinh thắt lưng là chủ yếu, còn tổn thương đám rối thần kinh thắt lưng cùng thấp mức độ nhẹ. Bệnh nhân được điều trị kháng viêm giảm đau và tập vật lý trị liệu tích cực. Kết quả EMG lần 3 sau 4 tuần điều trị: tổn thương sợi trục cấp tính đám rối thần kinh thắt lưng cùng bên trái, trong đó tổn thương đám rối thần kinh thắt lưng nặng hơn đám rối thần kinh thắt lưng cùng dưới. Bệnh nhân đang có dấu hiệu phục hồi so với lần đo trước. Sau 06 tháng điều trị bệnh nhân phục hồi.

Kết luận: Nhiều biến chứng khác nhau có thể xảy ra trong gây tê trục thần kinh và có liên quan đến kỹ thuật hoặc các loại thuốc được sử dụng trong suốt quá trình. Tổn thương trục thần kinh hiếm nhưng thường vĩnh viễn do đó cần theo dõi sát phát hiện sớm và xử trí khẩn cấp khi tổn thương thần kinh trung ương còn có khả năng hồi phục. TNPs thường gặp nhưng tổn thương hiếm khi kéo dài. Đa số các tổn thương thần kinh thoáng qua hồi phục tốt với điều trị thuốc kháng viêm và tập vật lý trị liệu tích cực.

Từ khóa: Tổn thương thần kinh trung ương, Tổn thương thần kinh thoáng qua (TNSs), thay khớp háng.

ABSTRACT :

Spinal anesthesia is one of the most popular and widely used anesthetic procedures. It is a simple, cost effective and efficient technique that provides complete sensory and motor block, as well as postoperative analgesia with a high success rate. Several advantages of spinal anesthesia include a decreased incidence of deep vein thrombosis, reduced intraoperative blood loss, as well as the prevention of pulmonary aspiration in case of emergency, especially in patients with potential airway problems and known respiratory diseases. Due to the invasive nature of spinal anesthesia, there are several types of complications that may occur with different incidence. At least some of these problems appear to be inevitable Central nerve damage is rare but usually life-threatening, the incidence of this condition has been accepted as 1 in 220,000 patients undergoing spinal anesthesia. Transient neurologic problems are more common depending on a variety of factors such as the technique, the local anesthetics, additive medicines used ... but rarely and good recovery. In our case report, we report a case of radiculopathy after hip arthroplasty.

- Case report: A 35 years old men, healthy history, is diagnosed with right hip degeneration. Normal preoperative laboratories allow spinal anesthesia in the L3L4 intervertebral compartment to be combined with epidural anesthesia to operative the right hip arthroplasty. After surgery the patient had motor weakness and sensory loss on the left leg. Magnetic resonance imaging (MRI): normal. Results of EMG 1: suggesting damage to the peroneal nerve, L5 root. Results of the second EMG: acute left lumbar plexopathy, in which lumbar pflexopathy is more than lower lumbosacral plexopathy. Patients were treated for analgesia and physical therapy. Results of the third EMG after 4 weeks of treatment: acute left lumbar pflexopathy, in which lumbar pflexopathy is more than lower lumbosacral plexopathy. Patients are showing signs of recovery compared to the first result. After 6 months of treatment patients recovered.

Conclusion: Various complications can occur during neuraxial anesthesia and are widely related to the procedure itself or drugs used during the procedure. Spinal hematoma following spinal anesthesia is a severe complication that requires early surgical intervention to prevent permanent neurological damage. Transient neurologic problems are common but the lesions are seldom prolonged. Most transient neurologic problems recovered well to anti-inflammatory drugs and active physical therapy

Key words: Central nervous system injury, transient neurologic problems, hip arthroplasty.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF