Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2018 - Tập 22 - Số 4
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ SỚM SAU PHẪU THUẬT 80 TRƯỜNG HỢP SƠ SINH TEO RUỘT NON

Nguyễn Thị Cẩm Xuyên*, Trần Quốc Việt*, Tạ Huy Cần*, Hồ Tấn Thanh Bình**, Trương Quang Định*

TÓM TẮT :

Đặt vấn đề: Teo ruột non là một trong những nguyên nhân thường gặp nhất gây tắc ruột ở trẻ sơ sinh. Tuy nhiên, điều trị teo ruột non ở các nước đang phát triển như Việt Nam vẫn còn những khó khăn nhất định do tồn tại nhiều vấn đề hạn chế.

Mục tiêu: Đánh giá kết quả sớm của điều trị phẫu thuật các trường hợp teo ruột non bẩm sinh.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Đối tượng: Bệnh nhân bị teo ruột non đã được chẩn đoán và phẫu thuật tại bệnh viện Nhi đồng 2 trong khoảng thời gian 2,5 năm từ tháng 9/2013 đến 2/2016. Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu mô tả loạt ca.

Kết quả: Tổng số có 80 bệnh nhân được phẫu thuật (37 nam, 43 nữ). Trung vị tuổi nhập viện: 19,5 giờ (1 - 336 giờ). Trung vị tuổi phẫu thuật: 55,5 giờ (5,5 - 368 giờ). Có 41 ca teo hỗng tràng (51,3%), 39 ca teo hồi tràng (48,7%). Cắt nối ruột chiếm tỉ lệ 60% còn lại là mở ruột ra da 40%. Biến chứng sau mổ thường gặp gồm: hội chứng ruột ngắn (11,2%), thủng ruột (7,5%), chậm hoạt động miệng nối (7,5%). Thời gian nằm viện trung bình: 37,7 ± 20,1 ngày. Có 19 trường hợp tử vong sau mổ chiếm tỉ lệ 23,7%.

Kết luận: Hội chứng ruột ngắn, chậm hoạt động miệng nối và thủng ruột là những biến chứng sau mổ nguy hiểm nhất làm kéo dài thời gian điều trị, nuôi ăn tĩnh mạch. Trên nhóm bệnh nhân phải nuôi ăn tĩnh mạch kéo dài này nguy cơ nhiễm trùng huyết và viêm phổi tăng cao dẫn đến tăng tỉ lệ tử vong sau mổ.

Từ khoá: teo ruột non, chẩn đoán tiền sản, hội chứng ruột ngắn, chậm hoạt động miệng nối, rò miệng nối.

ABSTRACT :

Background: Intestinal atresia (IA) is the commonest congenital neonatal intestinal obstruction. However, management of this disease in the developing countries like Vietnam is still difficult by we have our own inherent problems.

Objectives: The aim of this study is to evaluate short - term outcome of surgical management of IA in the neonate.

Materials and methods: This study is a retrospective study of patients with IA and their postoperative outcome in a Southern Vietnam Hospital – The Children Hospital No 2 over a 2,5-year period (between September 2013 and February 2016).

Results: A total of 80 patients were operated (37 males, 43 females). Median age at admission was 19.5 hours (range 1 - 336 hours) and median age at surgery was 55.5 hours (range 5.5 - 368 hours) and. 41 children (51.3%) had jejunal atresia and 39 children (48.7%) had ileal atresia. Operative management included resection with primary anastomosis in 60% of all patients and temporary enterostomies in 40%. Common general postoperative complications include: short bowel syndrome (11.2%), intestinal perforation (7.5%), anastomotic dysfunction (7.5%). Mean hospital stay for all cases was: 37.7 ± 20.1 days. Nineteen (23.7%) patients died.

Conclusions: Short bowel syndrome, anastomotic dysfunction, intestinal perforation seem to be the biggest problems resulting in longer hospital stay, more feeding problems. Among patients who require long-term total parenteral nutrition for survival, sepsis and pneumonia are important factors governing morbidity and mortality.

Keywords: Intestinal atresia, prenatal diagnosis, short bowel syndrome, anastomotic dysfunction.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF