Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2018 - Tập 22 - Số 4
VIÊM PHỔI DO BURKHOLDERIA PSEUDOMALLEI Ở TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1

Phạm Thanh Uyên*, Trần Anh Tuấn*

TÓM TẮT :

Mục tiêu: Khảo sát các đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị của viêm phổi ở trẻ em do Burkholderia pseudomallei và tình trạng nhạy cảm kháng sinh của tác nhân này.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu và tiền cứu mô tả hàng loạt ca những trường hợp viêm phổi do Burkholderia pseudomallei tại bệnh viện Nhi Đồng 1 từ 1/2015 đến 12/2017.

Kết quả: Trong 2 năm có 6 trường hợp viêm phổi trẻ em do Burkholderia pseudomallei nhập viện tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 (4 nam, 2 nữ). 3 ca bệnh là người Campuchia. Hầu hết thời điểm nhập viện là vào mùa mưa vì người bệnh mắc bệnh do tiếp xúc với đất và nguồn nước bị ô nhiễm, tuổi trung bình ghi nhận 60 tháng. Chỉ có 1 trường hợp ghi nhận bệnh nền (thalassemia). Cả 6 trường hợp đều có biểu hiện viêm phổi cấp tính như các tác nhân thông thường khác: sốt, ho, thở nhanh, thở co lõm lồng ngực, ran ẩm nổ, 5 trên 6 trường hợp có suy hô hấp kèm theo. Tổn thương trên X quang ngực: thâm nhiễm nốt - đám mờ không đồng nhất (6/6 ca), kén khí (4/6 ca), tràn dịch màng phổi (đa số phổi phải) (6/6 ca), xơ hóa (1/6 ca). Ghi nhận có 3 trường hợp tổn thương dạng viêm phổi hoại tử. Chẩn đoán xác định dựa vào cấy máu và dịch cơ thể dương tính với Burkholderia pseudomallei. Vi khuẩn phân lập được nhạy cảm hoàn toàn với ceftazidime và TMP-SMX. Bốn trường hợp đề kháng với nhóm Carbapenem. Hai trường hợp ghi nhận được nhạy cảm với Ciprofloxacin + Ticarcilin + Cefotaxim + Carbapenem. Điều trị giai đoạn tấn công bằng kháng sinh tĩnh mạch trong thời gian dài về thời gian có sự khác biệt rất lớn: thấp nhất là 3 ngày (do ca bệnh tử vong), cao nhất là 45 ngày. Các kháng sinh thường được sử dụng trong giai đoạn tấn công: ciprofloxacin, ceftazidime, meronem, imipenem, TMP-SMX nhưng cũng thường phối hợp với vancomycin, clindamycin do tất cả các trường hợp đều vào viện với bệnh cảnh lâm sàng rất nặng do đó kháng sinh ban đầu sử dụng theo liệu pháp xuống thang dùng kháng sinh bậc cao và phổ rộng khi chưa phân lập được tác nhân. Điều trị duy trì kháng sinh uống với TMP-SMX sau xuất viện chỉ được chỉ định trong 2 trường hợp gần đây nhất. Ghi nhận 1 trường hợp tái phát do không được điều trị tiệt trừ sau xuất viện. Bệnh có tỷ lệ tử vong cao: 2/6 ca (tỷ lệ 33%).

Kết luận: Viêm phổi do Burkholderia pseudomallei bệnh cảnh nặng, nhưng thường được chẩn đoán chậm và hình ảnh tổn thương phổi thường dễ gây nhầm lẫn với lao. Cần lưu ý yếu tố dịch tễ vùng miền địa phương và yếu tố nguy cơ để gợi ý chẩn đoán. Trong điều trị điều tiên quyết cần bao gồm giai đoạn tiệt trừ và giai đoạn điều trị duy trì kéo dài nhằm giảm tỷ lệ tử vong, tránh tái phát, tái nhập viện.

Từ khóa: Melioidosis, B. pseudomallei, Pneumonia, Bacteremia.

ABSTRACT :

Objectives: Determine the epidemiological, clinical, paraclinical and treatment characteristics of pneumonia due to Burkholderia pseudomallei and status of antibiotic susceptibility of Burkholderia pseudomallei to antibiotics recommended for treatment.

Methods: Case series of pneumonia due to Burkholderia pseudomallei patients admitted to the Children’s Hospital 1, Ho Chi Minh City, Viet Nam from January 2015 to December 2017.

Results: There were 6 patients (4 males, 2 females) (median age: 60 months) admitted for pneumonia due to Burkholderia pseudomallei. The definitive diagnosis was confirmed by lung infiltrations on the chest radiographies and the positive blood or body fluids (sputum, joint fluid,...) of Burkholderia pseudomallei. 4/6 children were under 2 years old. Almost were hospitalized in rainy season. Three children came from Cambodia. One cases had underlying disease (beta thalassemia). All 6 cases had typical clinical presentation of acute pneumonia (fever, cough, tachypnea, use of accessory respiratory muscles, moist rales, dry rales), 5/6 cases had respiratory failure. 5/6 children (83.3%) had septicemia. Other clinical appearances included skin abscesses (40%), soft tissue abscesses (60%), and septic arthritis (16.7%). The chest radiographies findings vary widely: node-patchy consolidation (6/6 cases), and especiallypneumatocele (4/6 cases), pleural effusion (almost right lung) (6/6 cases), fibrosis (1/6 cases). Necrotizing pneumonia was found in 3/6 children. Burkholderia pseudomallei were completely sensitive to ceftazidime and TMP-SMX. Two cases were sensitive to ciprofloxacin, ticarcilin, cefotaxim, carbapenem. Especially, the resistance to carbapeneme were found in 4/6 children. These children had a prolonged hospital stay: median LOS was 27 days (range: 3-45 days). Commonly used antibiotics: ciprofloxacin, ceftazidime, meronem, imipenem, TMP-SMX. One case relapsed of this disease without subsequent eradication therapy (TMP-SMX) was noted after being discharged from hospital. During hospitalization, 33% of the patients died (2/6 cases).

Conclusions: Melioidosis represent an important cause of morbidity, mortality, and fatal community-acquiredbacteremic pneumonia. This disease could be suspected when patients presenting with appropriate epidemiological and exposed factors. The recommend for treatments need both long term initial intensive therapy and subsequent eradication therapy in order to have better treatment and avoid the recurrent of the disease.

Key words: Melioidosis, B. Pseudomallei, Pneumonia, Bacteremia.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF