Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2017 - Tập 21 - Số 6
THIẾT LẬP QUI TRÌNH SÀNG LỌC TRƯỚC SINH KHÔNG XÂM LẤN PHÁT HIỆN TAM BỘI NHIỄM SẮC THỂ BẰNG KỸ THUẬT GIẢI TRÌNH TỰ THẾ HỆ MỚI

Nguyễn Vạn Thông**, Võ Thanh Bình*,, Trịnh Nhật Thư Hương***, Nguyễn Minh Trúc*, Nguyễn Hữu Nguyên****, Nguyễn Thị Quỳnh Thơ****, Hoàng Thị Diễm Tuyết**, Trương Đình Kiệt****, Phan Minh Duy*****, Giang Hoa****, Đỗ Thị Thanh Thủy*,

TÓM TẮT :

Mở đầu: Hiện nay, phương pháp sàng lọc trước sinh không xâm lấn bằng kỹ thuật giải trình tự thế hệ mới (Next generation sequencing – NGS) đã được áp dụng phổ biến trên thế giới để phát hiện thai nhi bị tam bội nhiễm sắc thể. Phương pháp này có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, giúp giảm số lượng chỉ định thủ thuật xâm lấn, đảm bảo an toàn sức khoẻ thai phụ và thai nhi. Ở Việt Nam, mẫu máu của thai phụ sẽ được gởi sang nước ngoài để thực hiện sàng lọc này với chi phí cao và thời gian trả kết quả dài.

Mục tiêu: Thiết lập qui trình và ứng dụng sàng lọc trước sinh không xâm lấn phát hiện lệch bội nhiễm sắc thể (NST) ở thai nhi qua máu mẹ.

Phương pháp Thiết lập qui trình và nghiên cứu ứng dụng. 68 thai phụ có tuần tuổi thai từ 14 tuần đến 22 tuần có nguy cơ cao mang thai bất thường số lượng nhiễm sắc thể qua các xét nghiệm tầm soát ba tháng đầu thai kỳ (siêu âm độ mờ da gáy –NT và xét nghiệm double test). Các thai phụ này được tư vấn thực hiện xét nghiệm chẩn đoán chọc hút dịch ối để phân tích nhiễm sắc thể đồ của thai nhi tại bệnh viện Hùng Vương. Trước khi thực hiện thủ thuật xâm lấn, 10ml mẫu máu của 68 thai phụ này được lấy trong ống K2EDTA và gửi tới trung tâm Y Sinh học Phân tử đại học Y Dược TPHCM. Kỹ thuật giải trình tự gen thế hệ mới được chúng tôi thiết lập qui trình hoàn chỉnh, bao gồm tách chiết DNA tự do trong mẫu máu sử dụng bộ kit của Thermo Fisher Scinetific (Hoa Kỳ), xây dựng thư viện trình tự sử dụng bộ kit của New England Biolabs (Hoa Kỳ), giải trình tự bằng hệ thống giải trình tự thế hệ mới Illumina (Hoa Kỳ) và phân tích kết quả bằng hai phương pháp được sử dụng phổ biến: đếm cơ bản (CB: count-based) và đếm dựa trên kích thước phân mảnh ADN (SB: size-based). So sánh kết quả của qui trình được thiếp lập trong nghiên cứu với chuẩn vàng là phân tích nhiễm sắc thể đồ của thai nhi qua tế bào ối.

Kết quả: Qui trình kỹ thuật giải trình tự thế hệ mới trong sàng lọc trước sinh không xâm lấn đối với bất thường đa bội nhiễm sắc thể (NST) qua máu mẹ đã được thiết lập. Ứng dụng kỹ thuật này với 68 mẫu máu của các thai phụ có tuần tuổi thai từ 14 tuần đến 16 tuần. Kết quả phát hiện 34 trường hợp có bất thường NST bao gồm 26 Trisomy 21, 6 Trisomy 18 và 2 Trisomy 13 và 34 mẫu bình thường. So sánh kết quả của phương pháp giải trình tự gen thế hệ mới với kết quả nhiễm sắc thể đồ tại Bệnh viện Hùng Vương cho thấy sự tương đồng giữa các phương pháp là 100%.

Kết luận: Nghiên cứu đã thiết lập được qui trình sàng lọc trước sinh bất thường NST bằng kỹ thuật giải trình tự thế hệ mới từ máu mẹ với độ tương đồng với kết quả phân tích NST đồ là 100%. Quy trình này có thể giúp làm giảm tỉ lệ thai phụ được chỉ định chọc ối, góp phần giảm nguy cơ từ phương pháp chẩn đoán xâm lấn.

Từ khoá: Sàng lọc trước sinh không xâm lấn (NIPT), tam bội NST, NT, kỹ thuật giải trình tự gen thế hệ mới (NGS).

ABSTRACT :

Background: Non-invasive prenatal testing (NIPT) for fetal aneuploidies has been widely adopted in developed countries. This method has shown high sensitivity and specificity, helping to reduce the number of invasive operations and increase health care quality of pregnant women. In Viet Nam, collected blood samples have been sent oversea to perform this prenatal testing with high cost and longer report time.

Objective: This study aims to develop a complete non-invasive prenatal testing protocol in Viet Nam for fetal aneuploidies using maternal blood.

Method: An application study. Blood from high-risk pregnant females with singleton pregnancies in second trimester was collected for this prenatal test before proceeding to amniocentesis at Hung Vuong hospital. Complete protocol was performed: cell-free DNA extraction from blood, preparation of sequencing libraries, and loading for sequencing using Illumina next-generation sequencing system.

Results: Our protocol was successfully established and applied to 68 samples from high-risk pregnant women. The results of our protocol were compared with gold-standard diagnosis by karyotype at Hung Vuong hospital. Among 34 samples confirmed to be aneuploidy by karyotype of which 26 are trisomy 21, 6 are trisomy 18, 2 are trisomy 13, our protocol could identify all of them, showing a concordance of 100 % in result between our NIPT protocol and karyotyping.

Conclusion: This study has successfully developed a complete protocol for non-invasive prenatal screening for fetal aneuploidies. The application of this method in Viet Nam could reduce the cost and time due to sample transportation processes as well as reduce the number of pregnant females with amniocentesis prescription and therefore reduce risk from invasive procedures.

Key words: Non-invasive prenatal testing (NIPT), aneuploidy, NT, Next-generation sequencing (NGS)

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF