Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2017 - Tập 21 - Số 6
KHẢO SÁT KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ DỊ TẬT BẨM SINH ĐƯỜNG TIÊU HOÁ Ở TRẺ SƠ SINH ĐƯỢC PHẪU THUẬT TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2

Trần Thị Lam*, Giang Trần Phương Linh*, Hồ Minh Thảo*

TÓM TẮT :

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm về dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị trẻ sơ sinh dị tật bẩm sinh đường tiêu hóa (DTBSĐTH) được phẫu thuật tại khoa sơ sinh bệnh viện Nhi Đồng 2.

Phương pháp nghiên cứu: Tiến cứu mô tả hàng loạt ca trẻ sơ sinh bị DTBSĐTH được phẫu thuật tại khoa sơ sinh từ tháng 10/2014 đến 10/2015.

Kết quả: Qua khảo sát 324 ca DTBSĐTH được phẫu thuật, chúng tôi ghi nhận: Tỉ lệ DTBSĐTH nội trú là 5,25%, bao gồm các dị tật: không hậu môn (32,1%), teo thực quản (14,5%), tắc tá tràng (11,4%), teo ruột non (11,4%), hở thành bụng(10,5%), thoát vị rốn (8,6%), ruột xoay bất toàn (5,9%), Hirschsprung(5,6%). Siêu âm tiền sản phát hiện bất thường đường tiêu hóa là 115 ca (35,5%), có 96 ca được tư vấn tiền sản về bệnh (chiếm 83,5%). Nhiễm khuẩn huyết (NKH) và viêm phổi (VP) là hai biến chứng thường gặp trước và sau mổ. Nhóm teo ruột non có tỷ lệ NKH là 83,8%. Nhóm teo thực quản có VP cao nhất 85,1%. Kháng sinh được sử dụng trước mổ (80,2%), sau mổ (85,8%), ở hầu hết các nhóm dị tật. Nhóm teo ruột non có trung vị thời gian dùng kháng sinh (26 ngày), nằm sơ sinh (27 ngày), nằm viện (31 ngày) dài nhất. Tỷ lệ tử vong là 7,7%, nhiều nhất là nhóm teo ruột non (27%), kế đến là nhóm teo thực quản (12,8%), chủ yếu do NKH và VP.

Kết luận:Tỷ lệ tử vong của DTBSĐTH còn khá cao. Trong đó, NKH và viêm phổi là hai nguyên nhân tử vong chính.

Từ khoá: Dị tật bẩm sinh đường tiêu hoá, dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng, điều trị.

ABSTRACT :

Objectives: To describe characteristics of epidemiological, clinical, and laboratory findings and treatments of neonates with congenital digestive malformations operated in neonatal department of Children’s Hospital 2.

Methods: The study was prospective and retrospective case series in neonates with the congenital digestive tract defects operated from October 2014 to October 2015.

Results: From October 2014 to October 2015, there were 324 neonates with congenital digestive malformations recruited to the study. The incidence of the neonates with digestive tract defects admitted in the hospital was 5.25%; included: anorectic malformations (32.1%), esophageal atresia (14.5%), duodenal atresia (11.4%), jejunoileal atresia (11.4%), gastroschisis (10.5%), omphalocele (8.6%), intestinal malrotation (5.9%), Hirschsprung (5.6%). Sepsis and pneumonia were two common complications before and after surgery. Sepsis was highest in jejunoileal atresia (83.8%). Pneumonia was highest in esophagus atresia. (85.1%). Antibiotics was used in most groups, before surgery (80.2%) and postoperative (85.8%). Jejunoileal atresia group has longest median duration of antibiotic treatment (26 days), stays in neonatal department (27 days), hospital stays (31 days). The mortality rate is 7.7%, most in jejunoileal atresia group (27%) and esophagus atresia group (12.8%), mainly as sepsis and pneumonia.

Conclusions: Mortality of congenital digestive malformations was quite high. Sepsis and pneumonia were the two main causes of death.

Key words: Congenital digestive malformations, epidemiology, clinical, laboratory findings, treatment.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF