Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2017 - Tập 21 - Số 6
ĐẶC ĐIỂM BỆNH THÔNG LIÊN THẤT THEO DÕI NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG ĐỒNG NAI

Nguyễn Thị Ly Ly*

TÓM TẮT :

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ bệnh nhân thông liên thất (TLT) theo dõi ngoại trú tại Bệnh viện Nhi Đồng Đồng Nai, tỉ lệ các đặc điểm của hai nhóm bệnh nhân: TLT có can thiệp và TLT tự đóng và các kết quả sau can thiệp.

Kết quả: Có 338 bệnh nhân tham gia tái khám, chiếm 68%. Đặc điểm của lô nghiên cứu có 36,7% bệnh nhân suy dinh dưỡng, 9,8% bệnh nhân có dị tật ngoài tim đi kèm, TLT phần quanh màng chiếm đa số, kế đến là phần thoát, 43,4% TLT nhỏ, 36,2% TLT trung bình và 20% TLT lớn. 14 bệnh nhân (4,1%) tử vong trong quá trình theo dõi, trong đó có 10 trường hợp tử vong trước can thiệp. Tỉ lệ TLT tự đóng là 19,2%, đa số là TLT cơ bè và TLT phần màng. TLT phần thoát nhỏ vẫn có cơ hội tự đóng. 38,7% bệnh nhân có TLT đóng trước 12 tháng, 64,5% đóng trước 24 tháng, 93,6% đóng trước 60 tháng. Tỉ lệ can thiệp khá cao 45,3%. Hơn 50% bệnh nhân được phẫu thuật trước 14 tháng. Thời gian theo dõi sau phẫu thuật trung bình là 18,6 tháng (1-73 tháng) ở 103 bệnh nhân cho thấy cải thiện về mặt dinh dưỡng, kết quả siêu âm tim bình thường sau phẫu thuật là 70,9%, các bất thường tồn lưu cần quan tâm là hở van hai lá trung bình nặng (8,7%) và hở van động mạch chủ nhẹ (9,7%), kết quả điện tâm đồ có 32,3% block nhánh phải hoàn toàn. Đóng TLT bằng dụng cụ được thực hiện ở 22 bệnh nhân với tuổi trung bình là 62,7 tháng và 16 bệnh nhân được theo dõi trong 18,9 ± 13,4 tháng cho thấy kết quả khá tốt.

Kết luận: Bệnh thông liên thất hoàn toàn có thể được theo dõi tốt tại bệnh viện tuyến tỉnh có bác sĩ tim mạch nhi và các kết quả sau can thiệp khá tốt.

Từ khóa: Thông liên thất- tự đóng- phẫu thuật- đóng dụng cụ

ABSTRACT :

Objective: To determine the prevalence of VSD patients followed up in Dong Nai Children’s Hospital and describe their characteristics according to two groups: intervention (surgical and transcatheter closure) and spontaneous closure.

Results: Follow-up was performed on 338 patients (68%). There were 36.7% of patients underweight, 9.8% extra cardiac abnormalities. The majority of patients were perimembraneous VSD, then outlet VSD, with 43.4% small, 36.2% moderate and 20% large VSD.14 patients (4.1%) died during follow up, among them, 10 patients died before intervention. Spontaneous closure occurred only in 19.2%, mostly in the muscular and perimembraneous group, but small outlet VSDs could also closed spontaneously.38.7% VSD closed within the first 12 months, 64.5% closed before 24 months and 93.6% closed before 60 months. The prevalence of intervention was rather high, 45.3%. Above 50% of cases was operated before 14 months. During the mean follow up period of 18.6 months (1-73 months) with 103 patients after surgery, there was improvement on nutritional status; the results of echocardiography became almost normal in 70.9% cases. The residual abnormalities included moderate-severe mitral regurgitation (8.7%), mild aortic regurgitation (9.7%), and complete right bundle branch block (32.3%). Percutaneous transcatheter closure was performed on 22 patients with the mean age of 62.7 months. The results showed rather good after follow up for the mean period of 18.9 ± 13.4 months with 16 patients.

Conclusion: Patients with VSD may be well followed up at the local hospital that has pediatric cardiologists and we have had good outcome of interventions.

Keywords: Ventricular septal defect (VSD)-spontaneous closure-surgery- pericutaneous transcatheter closure.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF