Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2019 - Tập 23 - Số 1
CÁC BỆNH LÝ LIÊN QUAN GIẢM BA DÒNG TẾ BÀO MÁU QUA KHẢO SÁT TỦY ĐỒ TẠI KHOA HUYẾT HỌC BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1 TỪ 7/2017 – 5/2018: ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, HUYẾT ĐỒ, TỦY ĐỒ

Dương Ngọc Mai*, Đào Thị Thanh An*, Nguyễn Minh Tuấn**, Lê Bích Liên**, Nguyễn Thanh Hùng**, Dương Thị Mỹ Lệ**, Nguyễn Trần Quỳnh Như**, Lâm Thị Mỹ*

TÓM TẮT :

Đặt vấn đề: Giảm ba dòng tế bào máu (GBD) thường gặp trong nhi khoa. Ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu vềnguyên nhân giảm ba dòng tế bào ở trẻ em qua khảo sát tủy đồ.

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ các bệnh lý gây giảm ba dòng tế bào máu qua tủy đồ ở bệnh nhi GBDkhoa Huyết học Bệnh viện Nhi đồng 1, từ tháng 7/2017 đến tháng 5/2018 và các đặc điểm lâm sàng, huyết đồ, tủy đồ.

Phương pháp: mô tả loạt ca.

Kết quả: Có 96 trẻGBD được thực hiện tủy đồ trong thời gian nghiên cứu. Nam:nữ 1,2:1. Tủy đồ bất thường 96,9%, bình thường 3,1%. Nguyên nhân thường gặp: hội chứng thực bào máu (HCTBM) 58,3%, bạch cầu cấp dòng lympho 26,0%. Trung vị thời gian từ triệu chứng đầu tiên đến lúc làm tủy đồ ở nhóm ác tính là 13,5 ngày (4 – 31), HCTBM là 10,5 ngày (4 – 49 ngày), suy tủy hay tủy giảm sản là 13 ngày (8 – 23). Dấu hiệu lâm sàng thường gặp: sốt (83,3%), gan to (78,1%), lách to (65,7%), gan lách to (62,5%), thiếu máu (7,3%), xuất huyết (7,3%). Phết máu ngoại biên phát hiện blast trong 88,0% trường hợp ác tính. Tủy đồ có mật độ tủy giảm 10,4%, trung bình 68,8%, tăng 20,8%.

Kết luận: Tủy đồ giúp chẩn đoán trong 96,9% trường hợp GBD ở trẻ em. Các nguyên nhân thường gặp là HCTBM, bạch cầu cấp.

Từ khóa: giảm ba dòng tế bào máu, tủy đồ

ABSTRACT :

Duong Ngoc Mai, Dao Thi Thanh An, Nguyen Minh Tuan, Le Bich Lien, Nguyen Thanh Hung,
Duong Thi My Le, Nguyen Tran Quynh Nhu,
Lam Thi My
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol. 23 - No 1 - 2019: 84 - 89

Introduction: Pancytopenia is one of the importance syndromes in children. In Vietnam, there has been no research about the causes of pancytopenia via bone marrow aspiration in children.

Objectives: To determine causes of pancytopenia in children via bone marrow aspiration at Hematology Department, Children hospital 1, from July 2017 to May 2018.

Design: Case-series study


Results: A total of 96 patients were referred to our hospital for bone marrow aspiration for pancytopenia during the study period. Male to female ratio was 1.2:1. The most common bone marrow abnormality at diagnosis was hemophagocytic lymphohistiocytosis (HLH), which was 58.3%, followed by acute lymphoblastic leukemia with 26.0% and acute myeloid leukemia with 4.2%. Non-specific findings were present in 3.1% of patients. The median duration of diagnosis (from first symptom to bone marrow aspiration) was 13.5 days (range, 4–31 days) in malignancy, 10.5 days in HLH (range, 4–49 days), and 13 days in aplastic anemia or bone marrow hypoplasia (range, 8–23 days). Most common clinical manifestations were fever (83.3%), hepatomegaly (78.1%), splenomegaly (65.7%), hepatosplenomegaly (62.5%), anemia (7.3%), and bleeding (7.3%). Whereas the peripheral blood smear showed blasts CA/blast in 88.0% cases with leukemia, bone marrow aspiration showed hypocellularity in 10.4%, normocellularity in 68.8%, hypercellularity in 20.8%.

Conclusions: In our hospital the most common causes of pancytopenia were hemophagocytic lymphohistiocytosis followed by acute leukemia. A definitive diagnosis could be made based solely on a single bone marrow aspiration in a significant fraction of cases.

Key words: pancytopenia, bone marrow aspiration

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF