Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2019 - Tập 23 - Số 4
VAI TRÒ HƯỚNG DẪN ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN ĐÔNG MÁU CỦA XÉT NGHIỆM ĐO ĐỘ ĐÀN HỒI CỤC MÁU ĐÔNG TRONG GÂY MÊ HỒI SỨC

Lê Hồng Chính*, Phan Tôn Ngọc Vũ*

TÓM TẮT :

Chảy máu chu phẫu là một nguyên nhân thường gặp gây tử vong và biến chứng sau các phẫu thuật lớn. Điều trị rối loạn đông máu chủ yếu là truyền huyết tương tươi đông lạnh (HTTĐL), kết tủa lạnh (KTL) hoặc tiểu cầu. Các xét nghiệm truyền thống như PT, INR và aPTT dùng để đánh giá con đường đông máu ngoại sinh và nội sinh. Tuy nhiên, những xét nghiệm này có những hạn chế như thời gian xét nghiệm lâu, thiếu đặc hiệu chất lượng cục máu đông, tiêu sợi huyết và không tiên lượng nguy cơ chảy máu hoặc khả năng đông máu do xét nghiệm được thực hiện không có tiểu cầu và các thành phần khác của máu trong môi trường chuẩn hóa. Xét nghiệm đo độ đàn hồi cục máu đông (ROTEM) là một xét nghiệm nhanh, đánh giá quá trình hình thành, diễn tiến, ổn định và tan cục máu đông. ROTEM có nhiều ưu điểm hơn các xét nghiệm truyền thống. Cho kết quả nhanh, trình bày bằng biểu đồ và các thông số, có giới hạn tham khảo, giúp chẩn đoán nhanh loại rối loạn đông máu. Đặc biệt xét nghiệm giúp chẩn đoán đặc hiệu nguyên nhân như thiếu fibrinogen, tăng tiêu sợi huyết, thiếu các yếu tố đông máu và ảnh hưởng của heparin. Áp dụng xử trí rối loạn đông máu theo hướng dẫn ROTEM làm giảm chảy máu và yêu cầu truyền máu trong các trường hợp chảy máu nhiều.

Từ khóa: xét nghiệm đông máu nhanh, xét nghiệm đo độ đàn hồi cục máu

ABSTRACT :

Le Hong Chinh, Phan Ton Ngoc Vu
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 23 - No 4 - 2019: 06-13


Hemorrhage in the perioperative period is a significant cause of patient morbidity and mortality after major surgery. The correction of coagulopathy entails primarily the use of thawed plasma, cryoprecipitate, or platelets. Traditionally, to assess coagulopathy, the prothrombin time (PT) and international normalized ratio (INR) were used to assess the extrinsic and common pathways, while the activated partial thromboplastin time (aPTT) was used to assess the intrinsic and common pathways. A laboratory fibrinogen level may supplement these basic coagulation tests. However, these tests have a variety of limitations including laboratory turnover times, lack of specificity regarding the quality of the clot formed or fibrinolysis and inability to predict risk of bleeding or clotting ability as the tests are performed in the absence of platelets and other blood components in a standardized environment. Rotational thromboelastometry (ROTEM) is a point of care devices allow visual assessment of blood coagulation from clot formation, through propagation, and stabilization, until clot dissolution. ROTEM has several distinct advantages over traditional coagulation assays. The point-of-care nature of the tests yields results quickly. The results are displayed in both graphical format as well as various numerical measurements, with reference ranges, which can aid rapid diagnosis of specific coagulopathies. Probably most importantly, the tests are able to detect specific defects in coagulation, such as hypofibrinogenemia, hyperfibrinolysis, factor deficiency, and heparin effect. Implementation of ROTEM-guided bleeding management algorithms reduced bleeding and transfusion requirements in several clinical settings including severe trauma.

Keywords: point-of-care coagulation testing, viscoelastic testing

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF