Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2019 - Tập 23 - Số 4
NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ BẢO VỆ TẾ BÀO GAN CỦA SEVOFLURANE TRONG PHẪU THUẬT CẮT GAN

Nguyễn Thị Ngọc Đào*, Nguyễn Thị Thanh**, Nguyễn Hoàng Bắc*, Doanh Đức Long*

TÓM TẮT :

Mở đầu: Tổn thương tế bào gan sau phẫu thuật cắt gan do nhiều nguyên nhân như: do chèn ép nhu mô gan của thao tác phẫu thuật, do giảm tưới máu nhu mô gan từ giảm huyết áp hệ thống, tổn thương thiếu máu do kẹp và xả mạch máu. Thuốc mê hô hấp sevoflurane có tác dụng bảo vệ tế bào cơ tim nhưng tác dụng bảo vệ tế bào gan trong phẫu thuật cắt gan có kiểm soát mạch máu vẫn chưa được chứng minh. Như vậy, gây mê với thuốc mê hô hấp sevoflurane với có hay không có tạo hiện tượng tiền thích nghi có thể đem lại hiệu quả bảo vệ tế bào gan trong phẫu thuật cắt gan có kiểm soát mạch máu hay không.

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả bảo vệ tế bào gan của sevoflurane trong phẫu thuật cắt gan có kiểm soát mạch máu vào.

Đối tượng – phương pháp nghiên cứu: Thử nghiệm ngẫu nhiên có nhóm chứng, mù đơn trên 124 bệnh nhân cắt gan do ung thư tế bào gan nguyên phát với kẹp mạch máu chọn lọc ngắt quãng được chia thành 3 nhóm, nhóm tiền thích nghi với sevoflurane (nhóm PS, n=41), nhóm sevoflurane liên tục (nhóm S, n=41) và nhóm chứng (nhóm P, n=42). Tiêu chí nghiên cứu chính: Đánh giá tổn thương tế bào gan xác định bởi nồng độ đỉnh alanine aminotransferase (ALT) và aspartate aminotransferase (AST) huyết thanh trong sau phẫu thuật. Tiêu chí nghiên cứu phụ: đánh giá các biến chứng sau phẫu thuật và phân loại biến chứng theo theo phân loại Clavien-Dindo với Grade I, II và IIIa là nhẹ và Grade IIIb, IV, V, tỷ lệ tử vong, tỷ lệ suy gan sau phẫu thuật.

Kết quả: Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nồng độ đỉnh ALT, AST, tỉ lệ biến chứng, tỉ lệ tử vong giữa 3 nhóm nghiên cứu. Nồng độ đỉnh ALT nhóm P, nhóm PS, nhóm S là: 255, 394 và 255 U/L, theo thứ tự, p=0,7; nồng độ đỉnh AST nhóm P, nhóm PS, nhóm S là: 306, 324 và 285 U/L, theo thứ tự, p=0,6. Tỉ lệ biến chứng sau phẫu thuật ở nhóm P 16,7%, nhóm PS 7,3% và nhóm S 9,8%, p=0,4. Clavien Dindo ³ III nhóm P 11,9%, nhóm PS  2,4% và nhóm S 2,4%, p=0,1. Tỷ lệ tử vong nhóm P 7,1%, nhóm PS 0% và nhóm S 0%, p=0,05. Tỷ lệ suy gan sau phẫu thuật nhóm P 7,1%, nhóm PS  0% và nhóm S 0%, p=0,05.

Kết luận: Không sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi gây mê với sevoflurane hay propofol cho bệnh nhân phẫu thuật cắt gan do ung thư tế bào gan nguyên phát với kẹp mạch máu ngắt quãng chọn lọc về nồng độ đỉnh AST, ALT, tỉ lệ biến chứng và tử vong.

Từ khóa: tiền thích nghi, sevoflurane, phẫu thuật cắt gan, tổn thương thiếu máu – tái tưới máu

ABSTRACT :

Nguyen Thi Ngoc Dao, Nguyen Thi Thanh, Nguyen Hoang Bac, Doanh Duc Long
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 23 - No 4 - 2019: 137-144


Background: Hepatocellular injury after hepatectomy is resulted of several factors such as: ischemic injury due to clamp and unclamp vascular system, or surgical maneuvers or systemic hypotension. reperfusion injury, but it induces the ischemic – reperfusion injury in the remnant liver. Hepatoprotective effects of sevoflurance to the ischemic –reperfusion injury in hepatectomy has not been proved yet. Whether maintaining general anesthesia by sevoflurane with or without preconditioning strategy may protect hepatocells from ischemic injury in hepatectomy with inflow occlusion

Objective: Evaluate the hepatoprotective effects of sevoflurane in hepatectomy with inflow occlusion. 

Methods: Randomized controlled single-blind trial, 124 patients underwent hepatectomy with selective and intermittent inflow occlusion due to hepatocellular carcinomas, were divided into 3 groups: preconditioning with sevoflurane group (group PS, n=41), maintenant anesthesia with sevoflurane (groupS, n=41) and control group (group P, n=42). Primary outcome: Postoperative peak serum concentration of alanine aminotransferase (ALT) and aspartate aminotransferase (AST). Secondary outcomes: postoperative complications were classified by Clavien-Dindo score, mortality and incidence of acute postoperative liver failure.

Results: There were no statistically significant difference between 3 groups in peak concentration of ALT and AST, postoperative complications, mortality and acute postoperative liver failure. Postoperative peak concentration of ALT in group P, PS, S were 255, 394, 255 U/L, respectively, p=0.7; Postoperative peak concentration of AST in group P, PS, S were 306, 324 và 285, U/L, respectively, p=0.6. Postoperative complications in group P, PS, S were 16.7%, 7.3%, 9.8%, respectively, p=0.4. Clavien Dindo ³ III in group P, PS, S were 11.9%, 2.4% , 2.4%, respectively, p=0.1. Mortality in group P, PS, S were 7.1%, 0%, 0%, respectively, p=0.05. Acute postoperative liver failure in group P, PS, S were 7.1%, 0%, 0%, respectively, p=0.05.

Conclusions: There were no statistically significant difference in maintaining general anesthesia by sevoflurane or propofol in patient underwent hepatectomy with selective and intermittent inflow occlusion about postoperative peak concentration of ALT and AST, postoperative complications and mortality. 

Keywords: preconditioning, sevoflurane, hepatectomy, ischemia - reperfusion injury

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF