Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2010 - Tập 14 - Số 1
BIẾN CHỨNG PHẪU THUẬT NGỰC

Văn Tần

TÓM TẮT :

BIẾN CHỨNG PHẪU THUẬT NGỰC

Văn Tần*

Từ khoá: Biến chứng phẫu thuật ngực

COMPLICATIONS OF CHEST SURGERY

Key words: Thoracic surgial complication

Lồng ngực chứa nhiều tạng quan trọng, trong đó tim, phổi, trung thất là chính. Tim và màng tim có liên hệ đến các mạch máu lớn, phổi và màng phổi, ngoài liên hệ với các mạch máu lớn còn liên hệ với khí-phế quản. Khí-phế quản, mạch máu lớn đều nằm ở trung thất trên. Thực quản, ống ngực và thần kinh giao cảm nằm trong trung thất sau. Thần kinh hoành, thần kinh phế vị, thần kinh quật ngược nằm ở trung thất giữa. Lồng ngực, ngoài chức năng che chở các tạng còn là một không gian kín, giữ áp suất âm cần thiết cho các tạng trong lồng ngực hoạt động.

Gây mê và phẫu thuật gây xáo trộn hô hấp và tuần hoàn trong lúc mổ, trong hồi tĩnh và trong hậu phẫu nhiều ngày, có thể dẫn đến suy hô hấp, suy tim và ảnh hưởng đến các tạng quan trọng khác(7,12).

Sau mổ, chức năng hô hấp giảm vì đường thở đóng sớm trong chu kỳ hô hấp (early airway closure) làm cho VC giảm 25- 50% trong 4 ngày đầu và các chức năng hô hấp khác cũng giảm theo, 7 ngày sau  mới trở lại bình thường. Các rối loạn hô hấp này có thể gây xẹp phổi làm cho chức năng hô hấp giảm thêm.

Thuốc mê và thuốc giảm đau sau mổ làm cho thể tích hô hấp giảm nặng và mất chu kỳ thở sâu (sighs: normal periodic hyperinflation 9-10 lần/h) cũng có thể dẫn đến suy hô hấp.

Trao đổi khí-máu bất thường sau mổ, PaO2 giảm và PaCO2 tăng khi thuốc mê chưa loại ra hết khỏi cơ thể. PaO2 tiếp tục giảm và PaCOcũng giảm trong tuần đầu do hiện tượng shunting vì xẹp phổi.

Cơ chế tự vệ của phổi sau mổ giảm, làm cho đàm nhớt bị ứ đọng và nhiễm trùng vì bệnh nhân không thể ho mạnh và tống đàm nhớt hiệu quả được do đau. Hệ thống nhờn tiết ra và lông trong đường thở trên bi ức chế.

Ngoài các tổn thương do chấn thương mà đa số phải xử lý cấp cứu, các bệnh lý trong lồng ngực cần điều trị ngoại khoa không hiếm, đặc biệt là bệnh tim bẩm sinh hay mắc phải, bệnh mạch vành, bệnh động mạch chủ; phổi thì ngoài dị tật bẩm sinh còn do viêm nhiễm hay u bướu; trung thất thì thường bị các khối u mà ác tính luôn cao hơn lành tính(5); thực quản thì thường bị ung thư. Ngoài ra còn có bệnh các tạng ở ngỏ vào ngực và ở cơ hoành.

Vì các tạng trong lồng ngực nằm sâu, kề cận nhau và gần tim, phổi thì hoạt động trong không gian áp suất âm nên định bệnh thường khó và trễ, nguy cơ gây mê và phẫu thuật cao, vì vậy phẫu thuật lồng ngực là một chuyên sâu(15).

Trong giới hạn báo cáo này, chúng tôi nêu lên một số biến chứng thường gặp mà nếu không phát hiện để cứu chữa kịp thời và hiệu quả sẽ để lại hậu quả tai hại cho người bệnh.

Biến chứng (BC) phẫu thuật lồng ngực có thể chia ra BC sớm, cấp tính(10,13,2,9) và BC muộn, mãn tính(16).

Biến chứng sớm, cấp tính

Bảng 1: BC và tử vong, ghi nhận trong những báo cáo qua các nghiên cứu:

Biến chứng

BC%

TV%

Chảy máu:

7,91

 

Tuột chỉ khâu ĐM phổi

2,3

33

XH từ ĐM phổi, ĐM liên sườn(10)

2,6

16

Dò máu ra phế quản(13)

3

 

BC tim:

 

 

Thoát vị tim

50

 

Tim bị ép

 

 

Hạ HA

 

 

Tim loạn nhịp/rung nhỉ(2)

18

 

BC phổi-màng phổi:

 

 

Phù phổi cấp(9)

2-5

80

Carlson et al(4)

 

 

Xẹp phổi lớn   

 

 

Xoắn thuỳ phổi

 

 

Hoại tử phổi

 

 

Viêm thuỳ phổi(14)

< 6

50

Dò khí

<30

 

Dò phế quản-màng phổi(3)

0,8-3

 

Còn khoảng chết

30

 

Tràn dịch màng phổi

 

 

Viêm mủ màng phổi(6)

2-7,5

 

Tràn khí màng phổi

 

 

Tràn nhủ chấp màng phổi

< 1

 

Những biến chứng cấp tính khác:

Tổn thương thực quản

Nhiễm trùng vết mổ, hở vết mổ

Tràn khí dưới da

Tổn thương thần kinh

Tắc mạch do bướu

Thuyên tắc động mạch phổi

Suy thận, TBMMN, XHTH nặng

Về các BC cấp tính trong phẫu thuật lồng ngực thì chảy máu, suy tim và suy hô hấp là những BC nặng. Chảy máu do tổn thương các mạch máu lớn, hầu hết là do sai sót kỹ thuật trong phẫu thuật thường dẫn đến sốc mất máu; BC tim thì có thoát vị tim, tim bị ép, hạ huyết áp và rối loạn nhịp thường dẫn đến suy tim; BC phổi thì có phù phổi cấp, xẹp phổi lớn, xoắn thuỳ phổi, hoại tử phổi, viêm thuỳ phổi, dò khí, dò phế quản-màng phổi thường gây suy hô hấp. Dò phế quản-màng phổi xảy ra từ 1-10% sau cắt phổi cũng là BC nặng(3), tử vong có thể xảy ra do nhiễm trùng và suy hô hấp.

Riêng về nội soi lồng ngực để định bệnh và điều trị các bệnh lý trong ngực thì theo 1 số tác giả nghiên cứu trong khoảng thời gian từ 1993 đến 1996(15,16,5,11,1), BC được ghi nhận là 5,7 và tử vong 0,29. Quan trọng nhất là dò khí nhiều và xuất huyết nặng (Bảng 2).

Bảng 2: BC trong phẫu thuật nội soi lồng ngực;

Tác giả

Số ca

Dò khí,

nặng

XH

NT

DVT

TV

 

Yim

1.337

1,6

0,3

0,4

1,1

0,07

0,07

 

Jancovici

 937

6,7

0,01

1,9

0,3

0,5

0,5

 

Inderbitzi

5.280

1,8

0,04

0,4

 

0,03

0,3

 

Krasna

348

0,9

 

0,3

 

0,9

0,6

Kaiser

 266

3,8

 

1,9

1,9

 

 

Hazelrigg

1.820

3,2

 

1,6

1,6

 

 

Bình quân/9.988

 

3

0,2

1,2

1,1

0,2

0,29

 

Riêng trong phẫu thuật cắt phổi, theo Ponn RB(11) thì BC từ 8,6 đến 25% khi cắt bỏ toàn bộ phổi và cắt phổi mở rộng (Bảng 3).

 Bảng 3: TV trong BC phẫu thuật cắt phổi;           

Phẫu thuật

ABSTRACT :

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF