Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2010 - Tập 14 - Số 1
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT BÓC VỎ PHỔI TRONG 10 NĂM (1999-2008) TẠI BV CHỢ RẪY

NGUYỄN CÔNG MINH

TÓM TẮT :

TÓM TẮT
Mục tiêu: Công trình này nhằm mục đích xác định hiệu quả mỹ mãn của phẫu thuật bóc vỏ phổi kết hợp với các phương thức hỗ trợ, so với các phẫu thuật khác tại BV Chợ Rẫy trong 10 năm (1999-2008).
Phương pháp nghiên cứu: Trong 10 năm, từ tháng 1/1999 đến tháng 11/2008, tại BV Chợ Rẫy, chúng tôi có 152 BN viêm mủ màng phổi mạn tính có chỉ định bóc vỏ phổi. Tuổi trung bình là 43, nam gấp ba lần nữ. Những BN này được mở ngực bóc vỏ phổi kết hợp với tưới rửa bằng dung dịch betadine pha loảng và vật lý hô hấp sau mổ. 
Kết quả: Trên 152 BN có 83 BN có túi mủ viêm dầy và 69 BN chỉ cần mở ngực phá ngóc ngách, cắt lọc và bóc vỏ phổi sớm. Đa số có nguồn gốc từ viêm phổi (65%), tràn máu màng phổi đông sau chấn thương chiếm (21%) và 15% là các nguyên nhân khác phải dẫu lưu màng phổi lâu ngày. Biến chứng chu phẫu là 21%, tử vong thấp, chỉ có 3,3%. •129 BN trong lô nghiên cứu (bóc vỏphổi - tưới rửa và tập vật lý hô hấp sau mổ) cho kết quả tốt 87% . •Lô chứng 23 BN (bóc vỏphổi - tưới rửa nhưng không có tập vật lý hô hấp sau mổ) kết quả tốt chỉ có 8,7% và xấu 91,3%).
Kết luận: Mặc dù có nhiều phương thức điều trị ngoại khoa bệnh viêm mủ màng phổi đóng kén. Ngoài hồi sức nâng tổng trạng, kháng sinh, phẫu thuật bóc vỏ phổi vẫn còn giữ nguyên giá trị. Tuy nhiên sau mổ, còn cần đến nhiều phương pháp điều trị hỗ trợ không thể thiếu được, đó là tưới rửa khoang màng phổi và vật lý hô hấp giúp phổi nở, hầu mang lại thành công mỹ mãn.

ABSTRACT :

ABSTRACT
Objective: This study was disigned to confirm that the cortication is a highly effective treament for chronic empyema to analyze the results of surgical treatment and compared with other operations at Chợ Rẫy hospital during 10 years (1999-2008).
Methods: During 10 years (1999-2008), at Chợ Rẫy hospital, On the 152 decortication of chronic empyemas. The median age was 43 years old, male is approsche 3 times more than memale. These patients who underwent thoracotomy for decortication associated treatment with the irrigation of the deluted solution of betadine and physiotherapy post-operative.
Results: On 152 decorticated patients: 83 thick wall enkystic chronic empyema, 69 debidement decortication. The most common cause is parapneumonic empyemas, 65%. The clotted hemothorax post-thoracic trauma, 21% and 15% longtime delayded chest tube. The perioperative complications are 18%. The mortality is low, 3,3%.
•Group I (group of research): 129 patients (Decortication - Irrigation and respiratory physiotherapy postoperative) with good results 87%.
•Group II (group of evidence): 23 patients (Only decortication - Irrigation but none respiratory physiotherapy postoperative), the result is worse, 91,3 %.
Conclusion: Depite advances in surgical techniques and supportive therapy including resussitation, antibiotics in treatment of enkystic chronic empyema, the cortications was the originated value. The importance for success is associated therapy of the irrigations the pleural cavity with the diluted solution of betadine and respiratory physiotherapy, made good effective re-expansion of the lungs.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF