Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2009 - Tập 13 - Số 1
HIỆU QUẢ CỦA PHÁC ĐỒ EAL VÀ EBMT TRONG TIỆT TRỪ HELICOBACTER PYLORI SAU ĐIỀU TRỊ THẤT BẠI LẦN ĐẦU

Trần Thiện Trung, Phạm Văn Tấn, Quách Trọng Đức, Lý Kim Hương

TÓM TẮT :

Mục tiêu: Nghiên cứu tiệt trừ H. pylori sau thất bại điều trị đầu tiên với các phác đồ bộ ba phối hợp giữa thuốc ức chế bơm proton và hai kháng sinh. 
Phương pháp nghiên cứu: Tiệt trừ H. pylori sau thất bại điều trị với các phác đồ bộ ba đầu tiên EAC và EAL bằng hai phác đồ (1) 4 thuốc EBMT: Esomeprazole-Nexium(r) 20 mg, 2 lần ngày phối hợp với (Bismuth 120 mg, Metronidazole 500 mg, Tetracycline 500 mg), 3 lần ngày, điều trị trong 14 ngày; và (2) EAL: Esomeprazole-Nexium(r) 20 mg, Amoxicillin 1000 mg và Levofloxacin 250 mg-Volexin(r), 2 lần ngày, điều trị trong 10 ngày. Kết quả tiệt trừ được đánh giá sau 1 tháng (4 tuần) khi ngưng hoàn toàn điều trị bằng nội soi dạ dày-tá tràng và thử test urease (CLO test); hoặc bằng thử nghiệm hơi thở 13C; hoặc cả hai thử nghiệm trên. 
Kết quả: Trên 45 bệnh nhân nghiên cứu (26 điều trị với phác đồ EBMT và 19 EAL). Tỷ lệ tiệt trừ H. pylori thành công của phác đồ EAL đạt 57,9% (11/19) số bệnh nhân theo ý định điều trị (ITT), và là 58,8% (10/17) phân tích theo số hồ sơ có đủ tiêu chuẩn hay là đề cương nghiên cứu (PP). Trong phác đồ EBMT, tỷ lệ này là 93,3% (24/26) theo ITT, và là 95,7% (22/23) theo PP. So sánh hiệu quả điều trị giữa hai phác đồ EAL và EBMT cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,01 theo ITT và p = 0,013 theo PP. 
Kết luận: Hai phác đồ EAL và phác đồ 4 thuốc EBMT nên coi là chọn lựa thứ hai sau điều trị thất bại lần đầu với các phác đồ bộ ba khác. Phác đồ 4 thuốc EBMT, trong 14 ngày có hiệu quả tiệt trừ vi khuẩn H. pylori thành công cao hơn phác đồ EAL-Levofloxacin, và là phác đồ nên được ưu tiên chỉ định tiệt trừ H. pylori trong thực tế điều trị hiện nay ở nước ta.

ABSTRACT :

Aims: To evaluate the effectiveness of EAL and EBMT regimens as the second-line therapies in Helicobacter pylori eradication.
Methods: There were 45 patients (26 treated with EBMT and 19 with EAL regimen). The patients who were failed to eradicate H. pylori by using first-line triple regimens were recruited and randomly selected to receive EAL regimen if they came to the out-patient department on even days and EBMT if they came on odd days. EAL regimens includes Esomeprazole-Nexium(r) 20 mg, Amoxicillin 1000 mg and Levofloxacin-Volexin(r) 250 mg; all were taken twice in 10 days. EBMT regimen includes Esomeprazole-Nexium(r) 20 mg bid, Bismuth 120mg tid, Metronidazole 500mg tid and Tetracycline 500mg tid, all were taken in 14 days. H. pylori status was confirmed by local urease test and / or 13C breath test after stopping all the drugs which may interfere with the above-mentioned tests for at least 4 weeks.
Results: There were 45 patients in our study (26 with EBMT and 19 with EAL regimen). The eradication rates of EAL regimen were 57.9% (11/19) (intention-to-treat analysis) and 58.8% (10/17) (per protocol analysis). The eradication rates of EBMT regimen were 93.3% (24/26) (intention-to-treat analysis) and 95.7% (22/23) (per protocol analysis); which were significantly higher than those of EAL (p=0.01 and p = 0.013 respectively).
Conclusions: EAL and EBMT regimens can be consider as the options for H. pylori eradication after failing with other first-line therapies. The quadruple regimen with EBMT in 14 days has shown to be much more effective than EAL and should be the second-line therapy of choice for H. pylori eradication.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF