Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2011 - Tập 15 - Số 2
HIỆU QUẢ CỦA TÁC ĐỘNG GÂY NHIỄU KHI ĐÂM KIM TRONG ĐIỀU TRỊ RĂNG TRẺ EM

Phan Ái Hùng, Phan Thị Thanh Yên, Nguyễn Bá Hiền, Nguyễn Thúy Lan

TÓM TẮT :

Mục đích của nghiên cứu là đánh giá hiệu quả của phương pháp đâm kim có gây nhiễu nhằm làm giảm cảm giác khó chịu trong quá trình gây tê trong điều trị răng trẻ em. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tổng cộng 102 trẻ (3-14 tuổi) có yêu cầu gây tê trong điều trị nha khoa được chia thành 2 nhóm: (1) 68 trẻ đâm kim theo phương pháp cải tiến và (2) 34 trẻ đâm kim theo phương pháp cổ điển. Trẻ trong nhóm (1) được yêu cầu cắn chặt gòn cuộn ở vùng chuẩn bị gây tê. Sau đó căng, kéo mô mềm ngập vào đầu kim. Một đánh giá viên độc lập ghi nhận phản ứng khó chịu khi đầu kim xuyên niêm mạc theo thang đo cảm giác dựa trên tiếng kêu, phản ứng của mắt và vận động (Sound, Eyes, Motor scale). Trong nghiên cứu này, sử dụng kim gây tê cỡ 27, chiều dài 21 mm và không dùng thuốc tê bôi. Kết quả cho thấy phản ứng không khó chịu của nhóm cải tiến (94,12%) khác biệt có ý nghĩa so với nhóm cổ điển (23,5%), (Chi bình phương, p<.000). Kết luận: đâm kim có gây nhiễu có thể làm giảm khó chịu khi gây tê trong điều trị nha khoa cho trẻ em.

ABSTRACT :

The aim of this clinical investigation was to determine the efficacy of distraction in the reduction of pain of dental needle insertion. Material and method: a total of 102 children, aged between 3 and 14, undergoing dental treament in the pediatric dental clinic were assigned into two groups: sixty eight subjects received the alternative procedure (1) and 34 the conventional one (2). In both groups, needle insertion was given, using a 27-gauge short dental needle. In the group 1, children was asked to continuous firmly biting (active distraction) on the cotton roll at the injection site during the administration of intraoral injection. The mucosa at the injection site was stretched, quickly and gently placed onto the obliquely beveled edge of the needle. Topical anesthetic gel was not used in this study. Pain-related behavior on needle insertion was rated by an independent evaluator, using the Sound, Eyes and Motor scale. The results, as analysed by Chi-square test, showed that the alternative procedure was able to reduce significantly pain-related behavior as compared to the conventional one, with a percentage of 94.12% and 23.5% pain-free insertion, respectively (p<.000). Conclusion: It is, therefore, concluded that the alternative technique for needle insertion should be considered for use in order to reduce pain and fear-related to local anesthesia in children.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF