Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2009 - Tập 13 - Số 1
ĐẶC ĐIỂM TIỀN PHẪU LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG CÁC TRƯỜNG HỢP TỨ CHỨNG FALLOT DƯỚI 17 TUỔI ĐƯỢC PHẪU THUẬT TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY

Nguyễn Thị Tuyết Lan, Vũ Minh Phúc

TÓM TẮT :

Mục tiêu: xác định đặc điểm tiền phẫu lâm sàng và cận lâm sàng các trường hợp tứ chứng Fallot dưới 17 tuổi được phẫu thuật tại bệnh viện Chợ Rẫy. 
Phương pháp nghiên cứu: mô tả hàng loạt ca 
Kết quả: Từ tháng 1/2005 đến tháng 6/2008, 50 bệnh nhân tứ chứng Fallot dưới 17 tuổi đã được phẫu thuật tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Đa số bệnh nhân là nam (tỷ lệ nam:nữ = 2:1), 84% cư ngụ ở tỉnh. Triệu chứng xuất hiện trước 1 tuổi chiếm 88%, với triệu chứng thường gặp là tím, mệt, tím ngất, nhưng được chẩn đoán sớm trước 1 tuổi chỉ có 76%. Tỷ lệ trẻ được chẩn đoán xác định ≤1tuổi ở tỉnh là 47,6%, thấp hơn đáng kể so với ở thành phố (87,5%), vì vậy hầu hết bệnh nhân được phẫu thuật tương đối trễ (tuổi phẫu thuật trên 5 tuổi chiếm 88%). Triệu chứng thực thể thường gặp là tím kèm theo ngón tay dùi trống, 54% có cơn tím thiếu oxy, suy tim NYHA II, III, 66% có bệnh lý răng miệng, 78% bệnh nhân bị suy dinh dưỡng, ngoài ra còn có biến chứng áp-xe não, VNTMNT. Đa hồng cầu chiếm 52%, khoảng 1/3 bệnh nhân có rối loạn đông máu, 36% bệnh nhân có toan máu. Các biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng trên cho thấy đa số bệnh nhân ở thể nặng, bệnh đã diễn tiến kéo dài, nguy cơ phẫu thuật cao. Siêu âm tim và MSCT đều rất có giá trị trong chẩn đoán xác định tứ chứng Fallot và các tổn thương phối hợp, đồng thời việc cập nhật các giá trị Z về kích thước tim giúp chỉ định, lựa chọn phương pháp và tiên lượng phẫu thuật. 
Kết luận: Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi cho rằng cần phải thiết kế chiến lược điều trị hợp lý trong những năm tới để bệnh nhân tứ chứng Fallot được chẩn đoán và phẫu thuật sớm, chuẩn bị tiền phẫu đầy đủ, nhằm làm giảm yếu tố nguy cơ trong và sau phẫu thuật.

ABSTRACT :

Objectives: to determine Pre-operative clinical and para-clinical characteristics of patients under 17 years of age with tetralogy of Fallot operated at Cho Ray hospital. 
Method: case-series. 
Results: From JAN/2005 to JUN/2008, there were 50 patients under 17 years of age with Tetralogy of Fallot operated at Cho Ray hospital. Descriptive statistical analysis on pre-operative clinical and para-clinical characteristics shows a high male proportion (male-to-female ratio 2:1), 84% of them living in provinces. Clinical symptoms occuring before 1 year of age account for 88% of cases, most commonly seen are cyanosis, tiredness and cyanotic syncope; however, only 76% of them are diagnosed before 1 year of age. The percentage of children ≤ 1 year of age who have been positively diagnosed is 47,6%, significantly lower than those living in big cities (87,5%); therefore, most of them were operated relatively late (children older than 5 at the time of surgery account for 88% of cases).Common physical findings are cyanosis and clubbed fingers; 54% of cases have hypoxic cyanosis, heart failure NYHA II-III; 66% with dental and buccal pathologies; and 78% with malnourishment. Brain abscess and infectious endocarditis are other complications. Polycythemia is seen in 52% of cases, about 1/3 of them have blood coagulation disorders, and 36% have acidemia.Clinical and para-clinical manifestations show that most of them are of severe, chronic cases with high surgical risks.Echocardiography and MSCT are very useful in making positive diagnosis of Tetralogy of Fallot and its associated abnormalities. In addition, they also help in updating the Z values of the sizes of cardiac chambers, which are served as guidances for the choice of operation as well as for prognosis. 
Conclusions: From the results of this study, we think that - in the years to come - a proper therapeutic strategy should be designed for early detection and surgical intervention of Tetralogy of Fallot, and thorough pre-operative preparations in order to reduce the risks during and after the operation.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF