Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2009 - Tập 13 - Số 2
TÌNH HÌNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 Ở NGƯỜI TRUNG NIÊN (40-60 TUỔI), NỘI THÀNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Tạ Thị Tuyết Mai

TÓM TẮT :

Đặt vấn đề: Tỷ lệ đái tháo đường tăng mỗi ngày, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Theo WHO người Châu Á có tỷ lệ kém dung nạp Glucose cao và rối loạn Glucose máu khi đói thấp, nhưng hầu hết các nghiên cứu của Việt nam về tần suất đái tháo đường đều chỉ dựa vào đường huyết khi đói và không làm test dung nạp Glucose, như vậy có khả năng bỏ mất một tỷ lệ lớn bệnh nhân đái tháo đường. Khảo sát tần suất người Việt Nam mắc bệnh đái tháo đường dựa trên cả hai chỉ số Glucose máu khi đói và test dung nạp Glucose là cần thiết. Mục tiêu đề tài: Xác định tỷ lệ người Việt Nam trung niên mới mắc bệnh đái tháo đường dựa trên cả hai chỉ số Glucose máu khi đói và test dung nạp Glucose. Đối tượng: Cư dân 30 phường nội thành, thành phố Hồ Chí Minh lứa tuổi 40-60. Phương pháp nghiên cứu: Điều tra cắt ngang Kết quả: Tỷ lệ đái tháo đường mới 11,2%, trong đó 21,9% bệnh nhân đái tháo đường và 71,3% tiền đái tháo đường chỉ được phát hiện đái tháo đường bằng test dung nạp glucose. 34,6% bệnh nhân đái tháo đường và 16,4% bệnh nhân tiền đái tháo đường có đề kháng insulin. 75% bệnh nhân đái tháo đường và tiền đái tháo đường có kém dung nạp gluocose (IGT) kèm đề kháng insulin. Không có mối tương quan giữa nồng độ insulin/máu và đường huyết, nhưng lại có mối tương quan thuận giữa đề kháng insulin và kém dung nạp Glucose. Kết luận: Nên đưa test dung nạp glucose vào chương trình tầm soát bệnh đái tháo đường mới. Và nên có chương trình tầm sóat bệnh lý mạch máu ở người bệnh đái tháo đường có kém dung nạp glucose (IGT).

ABSTRACT :

Background: The rate of diabetes increases everyday, especially in developing countries. WHO recognizes that Asian tend to suffer from impared glucose tolerance more than impared fasting glucose. But, prevalence of new diabetes in Vietnam only includes people who had impared fasting glucose. So that, it is a need to set a survey with fasting blood glucose and glucose tolerance test to find out the real prevalence of new diabetes. Objectives: To identify the real new diabetes prevalence of urban Ho Chi Minh City elderly with fasting blood glucose and glucose tolerance test. Subjects: 40-60 year old residents of 30 urban ward of Ho Chi Minh City Methodology: It was a cross sectional survey with n=2331. Variables included fasting plasma glucose, glucose tolerance test and insulin resistance. Results: Diabetes incidence was 11.2% with 21.9% diabetes and 71.3% prediabetes only found to be diabetes by glucose tolerance test. There were 34.6% diabetes and 16.4% prediabetes suffered from insulin resistance. 75% diabetes and prediabetes with impaired glucose tolerance (IGT) had the sign of insulin resistance. We did not found the correlation between blood insulin and blood glucose, but there was a positive correlation between insulin resistance and impaired glucose tolerance (IGT). Conclusion: Glucose tolerance test must be a screening test to find out the new case of type 2 diabetes. And cardiovascular disease must be checked in type 2 diabetes with impaired glucose tolerance (IGT).

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF