Untitled Document
Đăng nhập
Username:
Password:
Liên hệ quảng cáo

Số lượt truy cập

Đang có 1 người xem.

Search in TCYH

Keywords    

TÌM KIẾM NÂNG CAO          
  Tác giả :
Nhan đề :
Tóm tắt :
Title :
Abstract :
Từ năm :    đến :

* Năm 2010 - Tập 14 - Số 4
TỶ LỆ MANG HBsAg VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ MANG HBsAg CỦA CÁC THÀNH VIÊN TRONG HỘ GIA ĐÌNH: NGHIÊN CỨU CỘNG ĐỒNG TẠI MỘT XÃ MIỀN TRUNG (XÃ QUỲNH ĐÔI, HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN)

Nguyễn Văn Bàng(1), Nguyễn Thị Vân Anh(2)

TÓM TẮT :

Nhiễm virus viêm gan B (HBV) là vấn đề lớn của y tế công cộng, vì HBV là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây xơ gan và ung thư gan.
Mục tiêu. (1) Xác định tỷ lệ mang HBsAg ở các thành viên của các hộ gia đình tại một cộng đồng nông thôn đồng bằng miền Trung, (2) tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng mang HBsAg của quần thể này.
Đối tượng, phương pháp. Nghiên cứu cắt ngang tại cộng đồng trên 1047 đối tượng là thành viên của 305 hộ gia đình được chọn ngẫu nhiên từ 1220 hộ với 5200 thành viên ở xã Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu, Nghệ An). Xác định HBsAg bằng kỹ thuật ELISA. Đánh giá mối liên quan về tình trạng mang HBsAg giữa các thành viên trong gia đình bằng test λ2, đánh giá nguy cơ mang HBsAg bằng phân tích đơn và đa biến logistic regression.
Kết quả. Có 8,9% (93/1047) số đối tượng mang HBsAg. Số người HBsAg(+) tập trung trong 63 hộ gia đình gồm 275 thành viên. Nam giới có tỷ lệ HBsAg(+) là 12,2% (56/460), cao hơn rõ rệt so với tỷ lệ 6,3% (37/587) ở nữ giới (p<0,001); nguy cơ mang HBsAg ở nữ giới giảm hơn 2 lần so với nam giới (OR (95%CI.): 0,53 (0,29-0,95)). Trẻ em ≤10 tuổi có tỷ lệ HBsAg(+) là 3,4% (5/146), thấp hơn rõ rệt so với tỷ lệ 9,8% (88/901) ở những người lứa tuổi cao hơn (p<0,005); nguy cơ mang HBsAg ở trẻ ≤10 tuổi giảm 4,3 lần so với nhóm >10 tuổi (OR (95% CI): 0,23 (0,09-0,63)). Những trẻ từ con thứ 3 trở lên có tỷ lệ HBsAg(+) cao hơn các anh chị, kể cả trong quần thể lẫn trong nhóm 275 thành viên của 63 gia đình có người HBsAg(+). Những đối tượng có tiền sử vàng da cấp có tỷ lệ HBsAg(+) thấp hơn những đối tượng khác trong quần thể (p<0,001), ít nguy cơ mang HBsAg hơn hẳn nhóm không có tiền sử vàng da (OR(95%CI): 0,33 (0,16-0,66)). Trong nhóm 275 đối tượng thuộc 63 hộ gia đình có người HBsAg(+), tỷ lệ HBsAg(+) ở nhóm có tiền sử tiêm truyền là 37,7% (83/220), cao hơn tỷ lệ 18,2% (10/55) ở nhóm chưa từng tiêm truyền bao giờ (p<0,006); nhóm có tiền sử tiêm truyền có nguy cơ HBsAg(+) cao gấp gần 3 lần (OR (CI95%): 2,73 (1,30-5,70)). Không thấy có mối liên quan giữa tình trạng HBsAg của bố hoặc mẹ với tình trạng mang HBsAg của các con họ trong nghiên cứu này.
Kết luận. Tỷ lệ mang HBsAg ở quần thể nghiên cứu này phù hợp với đặc điểm vùng dịch tễ cao của nước ta. Cần nghiên cứu sâu thêm để làm rõ hơn vai trò lây truyền từ mẹ sang con, tác động của tiêm chủng và hậu quả tiêm truyền đối với sự thay đổi tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B tại cộng đồng.

ABSTRACT :

Hepatitis B virus (HBV) infection is now becoming one of main preoccupations of public health in Vietnam due to its devastating outcomes (active chronic hepatitis, hepatic cirrhosis and cancer).
Objectives. To assess HBsAg(+) rate and risk factor for being HBsAg carriers among household members of a healthy population living in a community in central region.
Population and methods. A community-based cross-sectional study was carried out on 1047 healthy members of 305 households randomly selected from a rural commune with 5,200 inhabitants of 1,220 households. HBsAg was determined by ELISA technique. Data related to demographic features and intendedly studied factors (past history of transient jaundice and of IM/IV injection, and hepatitis B vaccination) were collected using structured questionnaire. The data were analyzed using λ2 test and univariate and multivariate logistic regression technique.
Results. HBsAg rate was 8.9% (93/1047), aggregated in 63 households with 275 subjects. Female were significantly less affected than male (6.3% versus 12.2%, respectively, p<0.001) with likelihood of HBsAg carrying reduced to a half (OR (95%CI.): 0.53 (0.29-0.95)). Children of age profiting from hepatitis B prophylaxis (≤10 years old) were significantly less affected than others (3.4% versus 9.8% respectively, p<0.005) with 4.3 fold reducing risk (OR (95% CI): 0.23 (0.09-0.63)). The HBsAg rate was significantly higher in third siblings or younger than in their elder brothers/sisters regarding either the whole study population or in 63 households with affected members. In the whole study population, HBsAg rate was significantly lower in subjects with jaundice history than in others (3.7% versus 10.3% respectively, p<0.001), with 3 fold reducing risk (OR (95%CI): 0.33 (0.16-0.66)). Amongst 275 subjects from 63 households with at least one HBsAg positive person, HBsAg rate was significantly higher in those who got injection at least once in the life than others (37.7% versus 18.2% respectively, (p<0.006), with 2.7 fold higher in likelihood of HBsAg(+) (OR (CI95%): 2.73 (1.30-5.70)). There was no significant relationship between HBsAg status of parent and that of their children in this study.
Conclusion. Prevalence of hepatitis B virus chronic carriers in this study population is as high as reported in previous studies in the country. Further in-depth studies looking at the role of parent-to-children transmission, protective role of vaccination as well as hazardous role of injection on hepatitis B virus transmission were warranted.

Toàn văn HTML |  Toàn văn PDF